Từ khóa:
Câu hỏi: Hỏi về đi uống nước bị mất xe, chủ quán có phải bồi thường?

Tôi muốn hỏi vấn đề sau mong quý Cơ quan tư vấn trong trường hợp sau: tuần trước tôi có đi uống nước cùng bạn tại 1 quán nước trên địa bàn Tỉnh Tuyên Quang. Người bán hàng chỉ chỗ để xe cho tôi. Tuy nhiên khi ra thì xe của tôi bị mất.Tôi có nói với chủ quán thì chủ quán nói không bồi thường.? Xin cảm ơn !

Người gửi: Nguyễn Cẩm Ly Địa chỉ: Phường Phan Thiết, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 22/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 23/06/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT Cổng Thông tin điện tử, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin có ý kiến giúp bạn tham khảo như sau:

Trong trường hợp này của bạn, giữa bạn và người bán quán có xác lập quan hệ hợp đồng gửi giữ tài sản.

Theo quy định tại Điều 559 BLDS thì:

“Hợp đồng gửi giữ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên nhận giữ tài sản của bên gửi để bảo quản và trả lại chính tài sản đó cho bên gửi khi hết thời hạn hợp đồng, còn bên gửi phải trả tiền công cho bên giữ, trừ trường hợp gửi giữ không phải trả tiền công”.

Như vậy, hợp đồng gửi giữ tài sản được hiểu:

1. Được hình thành giữa hai bên, bên nhận giữ tài sản và bên gửi tài sản;

2. Hợp đồng có thể được giao kết bằng văn bản hoặc giao kết miệng

3. Giữa hai bên có thể thỏa thuận trả tiền công cho bên giữ hoặc không trả tiền công.

Như vậy, về nguyên tắc, khi người bán quán đồng ý trông giữ xe cho là thời điểm phát sinh quan hệ hợp đồng gửi giữ tài sản, trong đó người bán quán phải có trách nhiệm bảo quản, giữ gìn tài sản và phải bồi thường thiệt hại khi làm mất mát, hư hỏng xe của bạn.

Tuy nhiên, việc bạn yêu cầu người bán quán bồi thường cho bạn sẽ gặp nhiều khó khăn vì bạn cần chứng minh bạn đã gửi xe cho người bán nước trong khi giữa hai bên không có bất kỳ giấy tờ gì chứng minh việc trông xe hộ. Như vậy, trong những hợp như của bạn, nếu người bán quán nhận đã chỉ chỗ để xe và trông xe cho bạn thì họ phải bồi thường.

Trên thực tế những trường hợp này xảy ra tương đối nhiều và phần lớn người có tài sản khó yêu cầu người trông hộ bồi thường tài sản. Do vậy, người có tài sản cần rút kinh nghiệm là tài sản của mình thì mình cần phải bảo quản cẩn thận, nếu gửi xe thì cần có giấy tờ rõ ràng để đảm bảo quyền lợi của mình khi xảy ra mất mát, hư hỏng xe.

Câu hỏi: Hỏi về mua hàng qua mạng không giao đúng mẫu sẽ bị xử lý như thế nào? Khách hàng có được quyền trả lại hàng không?

Tôi có mua 1 sản phẩm trên mạng nhưng khi nhận được lại không phải mặt hàng quảng cáo và nhiều người cũng bị lừa như tôi. Kính mong quý cơ quan cho tôi biết làm thế nào để ngăn chặn trang đó lại không nhiều người sẽ bị lừa tiếp? xin cảm ơn!

Người gửi: Hoàng Thị Thúy Địa chỉ: An Khang, Yên Sơn, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 21/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 22/06/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT Cổng Thông tin điện tử, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời như sau:xin trả lời như sau:

Căn cứ Điều 17 Nghị định 99/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 quy định:

“- Khi giao kết hợp đồng từ xa, tổ chức, cá nhân kinh doanh phải cung cấp cho người tiêu dùng những thông tin sau:

+ Tên của tổ chức, cá nhân kinh doanh, số điện thoại liên lạc, địa chỉ, trụ sở, địa chỉ cơ sở chịu trách nhiệm về đề nghị giao kết hợp đồng (nếu có);

+ Chất lượng của hàng hóa, dịch vụ;

+ Chi phí giao hàng (nếu có);

+ Phương thức thanh toán, phương thức giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ;

+ Thời gian có hiệu lực của đề nghị giao kết và mức giá đề nghị giao kết;

+ Chi phí sử dụng phương tiện thông tin liên lạc cho việc giao kết hợp đồng nếu chi phí này chưa được tính vào giá của hàng hóa, dịch vụ;

+ Chi tiết về tính năng, công dụng, cách thức sử dụng của hàng hóa, dịch vụ là đối tượng hợp đồng.

– Trường hợp việc đề nghị giao kết hợp đồng được thực hiện thông qua điện thoại, tổ chức, cá nhân kinh doanh cần phải nói rõ ngay từ đầu về tên, địa chỉ của mình và mục đích của cuộc đàm thoại.

– Trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, trong trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp không đúng, không đầy đủ thông tin quy định tại khoản 1 Điều này thì trong thời hạn mười (10) ngày kể từ ngày giao kết hợp đồng người tiêu dùng có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng đã giao kết và thông báo cho tổ chức, cá nhân kinh doanh. Người tiêu dùng không phải trả bất kỳ chi phí nào liên quan đến việc chấm dứt đó và chỉ phải trả chi phí đối với phần hàng hóa, dịch vụ đã sử dụng.”

Như vậy, khi thực hiện việc giao kết hợp đồng trong trường hợp là mua hàng qua mạng, người tiêu dùng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng đã giao kết trong thời hạn mười ngày, nếu sản phẩm nhận được không đúng như thông tin và doanh nghiệp cung cấp (trừ trường hợp các bên đã có thỏa thuận khác).

Trong trường hợp này, người tiêu dùng không phải trả bất kỳ chi phí nào liên quan đến việc chấm dứt đó và chỉ phải trả chi phí đối với phần hàng hóa. Tuy nhiên, trên thực tế, khi người tiêu dùng yêu cầu trả lại hàng hóa và hoàn lại tiền khi gặp những vấn đề như sản phẩm không đúng như quảng cáo, nguồn gốc không rõ ràng, bị lừa đảo…, thì doanh nghiệp thường trốn tránh trách nhiệm và không giải quyết yêu cầu của người tiêu dùng.

Trong trường hợp này, để ngăn chặn trang web đó không để nhiều người bị lừa thì bạn có thể khiếu nại hoặc phản ánh tới Sở Công Thương hoặc Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng các tỉnh,thành phố. Cùng với đó là bạn cũng như người tiêu dùng  khác cần lưu ý những vấn đề sau đây: 

– Xác minh lại các thông tin quảng cáo trước khi đưa ra quyết định mua sắm qua kênh truyền hình;

– Thận trọng với những sản phẩm sử dụng hàng ngày nhưng giá quá cao (dầu gội, thuốc nhuộm tóc, kem dưỡng da, đồ gia dụng…);

– Luôn đặt câu hỏi với những sản phẩm được quảng cáo “rất tốt”, “ưu việt”, “số 1 thị trường”…;

– Cảnh giác với những sản phẩm không có thương hiệu/thương hiệu không nổi tiếng/rất ít người biết đến;

 

Câu hỏi: Hỏi về phun thuốc diệt cỏ làm ảnh hưởng tới hoa màu của nhà hàng xóm. Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Tôi có thuê 1 ha để trồng mì. Kế bên đám đất tôi thuê là 5 sào đất trồng cây mướp đắng đang trong thời gian cho trái. Vừa rồi tôi có sử dụng thuốc diệt mầm trên đám đất tôi thuê. Khoảng 12 ngày sau thì đám đất 5 sài đất trồng mướp đắng kê bên đấy có dấu hiệu cháy lá, thiệt hại trên khoảng 50 triệu Bây giờ chủ đất bị thiệt hại đấy đòi kiện cáo bên tôi. Nếu bị xử phạt thì như thế nào ? Xin cảm ơn !

Người gửi: Nguyễn Văn Hoàn Địa chỉ: Trung Môn, Yên Sơ, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 20/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 21/06/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT Cổng Thông tin điện tử, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời như sau:

Thứ nhất, cần xác định thuốc diệt mầm mà gia đình bạn đã sử dụng có phải là loại thuốc được phép sử dụng và có tên trong Danh Mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam hay không?

Theo đó, nếu vi phạm các quy định thì bạ có thể bị xử phạt theo quy định tại Điều 26 Nghị định 31/2016/NĐ-CP về vi phạm quy định về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật:

“1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng với nội dung hướng dẫn sử dụng ghi trên nhãn thuốc;

b) Không thu gom, để đúng nơi quy định bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau khi sử dụng.

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không có tên trong Danh Mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam;

b) Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật dưới dạng ống tiêm thủy tinh.

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng nội dung hướng dẫn ghi trên nhãn gây hậu quả nguy hiểm.

4. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong Danh Mục thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng tại Việt Nam.

5. Biện pháp khắc phục hậu quả

a) Buộc tiêu hủy thuốc đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 2, 4 Điều này;

b) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 3 Điều này.

Thứ hai, Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tại Điều 604 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

"Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó."

Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh khi có đủ các điều kiện sau:

– Yếu tố có thiệt hại xảy ra trên thực tế (thiệt hại về vật chất và tinh thần) là nền tảng cơ bản đồng thời là điều kiện bắt buộc của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

– Hành vi vi phạm đó là vi phạm những quy định của pháp luật nói chung, khi đó có thể là hành vi vi phạm những quy định của pháp luật về hình sự, hành chính, kinh tế…

– Bốn điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng gồm: Có thiệt hại xảy ra, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật, có lỗi của người gây thiệt hại và có mối liên hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật.

Bên gây thiệt hại phải bồi thường nhanh chóng, kịp thời và toàn bộ. Các bên không có sự thỏa thuận trước như đối với trường hợp vi phạm hợp đồng. Một số trường hợp bồi thường thiệt hại ngay cả khi không có lỗi, nếu pháp luật có quy định.

Thời điểm xác định trách nhiệm: Phát sinh từ thời điểm xảy ra hành vi gây thiệt hại.

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại được quy định như sau: 

– Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần.

– Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

– Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

Theo như bạn trình bày, trong thời gian ở trường, thì nhà trường có trách nhiệm quản lý con bạn nên khi người trông trẻ không để ý để trẻ uống nước rửa bát là người trông trẻ đã có lỗi và đã gây ra thiệt hại vì vậy nhà trường có trách nhiệm bồi thường.

Theo đó, cần xác định rõ nguyên nhân, lý do xảy ra hiện tượng cháy lá cây của gia đình bên cạnh là do đâu? Nếu chứng minh được là do gia đình bạn sử dụng thuốc diệt mầm thì 2 bên có thể thỏa thuận. Gia đình bạn có thể phải bồi thường số tiền 50 triệu đồng do gây thiệt hại trên.

Câu hỏi: Hỏi về hành vi nhặt được ví tiền nhưng không trả cho chủ sở hữu. Trách nhiệm của người nhặt được vật đánh rơi, bỏ quên.

Tôi có để quên một chiếc ví trên yên xe ngay tại nhà xe công ty nơi tôi làm việc. Tôi đã dán thông báo tìm mấy ngày rồi nhưng không thấy ai trả lại. Tôi nghe nói tại nhà xe có camera, nếu tôi xem lại và biết được người đã nhặt được chiếc ví của tôi. Tôi tìm gặp và xin lại nhưng người này không trả lại và cố tình chối cãi thì tôi có quyền tố cáo để cưỡng chế người này trả lại ví cho tôi được không? Trong ví của tôi không có nhiều tiền chỉ khoảng 400 ngàn thôi nhưng tất cả giấy tờ tùy thân quang trọng đều ở trong đó, nếu làm lại tôi phải mất rất nhiều thời gian và phải về tới quê để làm. Rất mong nhận đc câu trả lời của quý cơ quan!

Người gửi: Đặng Thị Hoa Địa chỉ: Phường Phan Thiết, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 19/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 20/06/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT Cổng Thông tin điện tử, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp, bạn để quên một chiếc ví nhưng không thấy ai trả lại, nhà xe nơi bạn để quên ví có lắp camera, giả sử camera có quay video lại và xác định được người nào đã nhặt được chiếc ví của bạn. Trong trường hợp này xử lý như sau:

Điều 187 Bộ luật Dân sự 2005 quy định quyền chiếm hữu tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu như sau:

"1. Người phát hiện tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phải thông báo hoặc trả lại ngay cho chủ sở hữu; nếu không biết ai là chủ sở hữu thì phải thông báo hoặc giao nộp cho ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc công an cơ sở gần nhất hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật.

Người phát hiện tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm được chiếm hữu tài sản đó từ thời điểm phát hiện đến thời điểm trả lại cho chủ sở hữu hoặc đến thời điểm giao nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Đối với tài sản do người khác tẩu tán nhằm che giấu hành vi vi phạm pháp luật hoặc trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ dân sự thì người phát hiện phải thông báo hoặc giao nộp ngay cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này."

 

Như vậy, giả sử trong trường hợp này có người nhặt được chiếc ví của bạn thì phải có trách nhiệm thông báo hoặc trả lại ví cho bạn; nếu không trả lại cho bạn thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân xã, phương, thị trấn hoặc công an cơ sở gần nhất để thông báo công khai cho bạn biết nhận lại.

Nếu trong trường hợp bạn phát hiện ra người này nhặt được ví của bạn, đã có yêu cầu trả lại nhưng người đó không trả, thì bạn có thể làm đơn tố cáo đến cơ quan công an cấp xã nơi cơ quan bạn có trụ sở. Do giá trị tài sản trong ví của bạn chỉ có 400.000 đồng nên người đó sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo Điểm e Khoản 2 Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP:

“2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

[…]

e) Chiếm giữ trái phép tài sản của người khác”

Người có hành vi vi phạm sẽ bị buộc tịch thu tang vật, vi phạm hành chính. Nếu người có hành vi vi phạm hành chính không chấp hành theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền thì sẽ bị cưỡng thế áp dụng. 

 

 

 

Câu hỏi: Hỏi về việc bị gọi điện thoại làm phiền xử lý thế nào? Xử lý hành vi quấy rối người khác qua điện thoại di động.

Cho em hỏi, em có người bạn vay tiền tín dụng mua sản phẩm tiêu dùng và khai SĐT cá nhân của em nhưng bạn này không hỏi ý em mà tự cho. Khi bên tín dụng (Fe) họ đòi và làm phiền đến em liên tục, có khi họ nói những lời khó nghe, nếu như vậy thì em có quyền kiện họ về tội quấy rối không ? Em cảm ơn ạ!

Người gửi: Phan Thu Trang Địa chỉ: Trung Môn, Yên Sơn, Tuyên Quang Ngày gửi: 18/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 19/06/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT Cổng Thông tin điện tử, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời như sau:

Như bạn trình bày, người bạn vay tín dụng và có sử dụng thông tin số điện thoại của bạn trong phần thông tin liên lạc mà không có sự đồng ý của bạn nhưng tổ chức tín dụng này vẫn gọi điện làm phiền khi người vay chậm trả nợ.

Căn cứ theo quy định của Luật viễn thông 2009, hành vi dùng điện thoại, các phương tiện viễn thông để quấy rối, xúc phạm, xuyên tạc, làm nhục người khác thì tùy theo mức độ nguy hiểm của hành vi mà có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định.

Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 66 Nghị định 174/2013/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện như sau:

“Điều 66. Vi phạm quy định về lưu trữ, cho thuê, truyền đưa, cung cấp, truy nhập, thu thập, xử lý, trao đổi và sử dụng thông tin

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây

g) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác;”

Như vậy, bạn có thể báo (trực tiếp hoặc gián tiếp qua điện thoại, bằng văn bản hoặc thư điện tử) cho doanh nghiệp viễn thông mà mình là khách hàng (thuê bao) hoặc gửi đơn khiếu nại cho Sở Thông tin và truyền thông địa phương để yêu cầu giải quyết.

Câu hỏi: Hỏi về chuyển nhầm tiền vào tài khoản của người khác xử lý thế nào? Xử lý hành vi chiếm giữ trái phép tài sản người khác.

Em có chuyển nhầm tiền vào số tài khoản khác và đã làm rà soát 2 lần rồi nhưng vẫn chưa lấy lại được số tiền đã gửi nhầm. Vậy cho em hỏi là làm thế nào để em lấy lại được số tiền chuyển nhầm ạ

Người gửi: Nguyễn Hồng Nhung Địa chỉ: Phường Phan Thiết, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 17/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 18/06/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT Cổng Thông tin điện tử, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời như sau:

Theo Khoản 4 Điều 36 Thông tư 23/2010/TT-NHNN do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành định về việc quản lý, vận hành và sử dụng hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng thì:

Đối với Lệnh thanh toán sai địa chỉ khách hàng (Lệnh thanh toán chuyển đúng đơn vị nhận lệnh nhưng không có người nhận lệnh hoặc người nhận lệnh mở tài khoản ở Ngân hàng khác), sai tên, số hiệu tài khoản của người nhận Lệnh thanh toán (đúng tên nhưng sai số hiệu tài khoản hoặc ngược lại), ký hiệu chứng từ, ký hiệu loại nghiệp vụ, xử lý như sau:

a) Đối với các Lệnh thanh toán Có (hoặc Nợ) đơn vị nhận lệnh đã nhận nhưng chưa hạch toán thì thực hiện hạch toán vào tài khoản phải trả (phải thu) sau đó lập Lệnh thanh toán chuyển trả lại đơn vị khởi tạo lệnh. Nghiêm cấm đơn vị nhận lệnh chuyển tiền tiếp;

b) Đối với các Lệnh thanh toán đã thực hiện, đơn vị nhận lệnh xử lý tương tự như đã nêu tại Điểm b Khoản 3 Điều này.”

 

Như vậy, khi bạn chuyển nhầm tiền vào tài khoản của người khác bạn cần đến Ngân hàng nơi bạn chuyển tiền để báo về việc chuyển nhầm tiền vào tài khoản, đồng thời yêu cầu tra soát, rà soát đối với sai sót giao dịch chuyển tiền liên ngân hàng.

Ngân hàng khi phát hiện có dấu hiệu nhầm lẫn hay sai sót sẽ thông báo cho chủ tài khoản và thực hiện phong tỏa, tạm khóa tài khoản cho đến khi làm rõ, khắc phục xong những sai sót trên.

Câu hỏi: Hỏi về hành vi tự ý dịch chuyển biển báo giao thông

Cửa hàng của tôi có một biển báo giao thông chắn trước cửa. Tôi có đào lên và di chuyển biển báo giao thông đó sang bên cạnh cách khoảng 2m. Sau đó tôi bị cơ quan chức năng xử phạt hành chính. Cho tôi hỏi, lỗi của tôi thì mức xử phạt là bao nhiêu và quy định tại văn bản nào? Xin cảm ơn!

Người gửi: Lâm Gia Bảo Địa chỉ: Phường Hưng Thành, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 16/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 17/06/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT Cổng Thông tin điện tử, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời như sau:

Tại Khoản 1 Điều 16 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình nêu rõ: “Vi phạm quy định về bảo vệ các công trình công cộng, công trình an ninh, trật tự: Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi tự ý xê dịch các loại biển báo, biển chỉ dẫn, biển hiệu của cơ quan, tổ chức”.

Câu hỏi: Hỏi về sử dụng trái phép logo, thương hiệu thương mại có bản quyền

Một công ty đã và đang in ấn, sử dụng logo, thương hiệu thương mại có bản quyền của công ty tôi để in lên sản phẩm của công ty họ làm ảnh hưởng đến uy tín của công ty tôi. Tôi muốn hỏi, mức xử phạt đối với hành vi sử dụng trái phép logo, thương hiệu thương mại có bản quyền là bao nhiêu và quy định tại văn bản nào? Xin cảm ơn!

Người gửi: Lê Kiều Anh Địa chỉ: Phường Phan Thiết, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 15/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 16/06/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT Cổng Thông tin điện tử, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin có ý kiến giúp bạn tham khảo như sau:

Một công ty đã và đang in ấn, sử dụng logo, thương hiệu thương mại có bản quyền của công ty khác là vi phạm vào Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) – Hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý. Cụ thể Điều 129 quy định:

“1. Các hành vi sau đây được thực hiện mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu thì bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu:
a) Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ trùng với hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó;
b) Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;
c) Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ trùng, tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;
d) Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hoá, dịch vụ bất kỳ, kể cả hàng hoá, dịch vụ không trùng, không tương tự và không liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng.

2. Mọi hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng hoặc tương tự với tên thương mại của người khác đã được sử dụng trước cho cùng loại sản phẩm, dịch vụ hoặc cho sản phẩm, dịch vụ tương tự, gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó đều bị coi là xâm phạm quyền đối với tên thương mại”.

 

Các hành vi vi phạm vào Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ tùy thuộc tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý hành chính theo Điều 11 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp quy định tại Điều 226 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cụ thể như sau: 

- Điều 11 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP quy định xử phạt đối với hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, kiểu dáng công nghiệp:
“1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây vì mục đích kinh doanh trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm đến 3.000.000 đồng:
a) Bán; chào hàng; vận chuyển, kể cả quá cảnh; tàng trữ; trưng bày để bán hàng hóa, dịch vụ xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp;
b) Đặt hàng, giao việc, thuê người khác thực hiện hành vi quy định tại Điểm a Khoản này.
2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ trên 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.
3. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ trên 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
4. Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ trên 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
5. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ trên 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
6. Phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ trên 40.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng.
7. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ trên 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
8. Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ trên 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng.
9. Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 110.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ trên 200.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng.
10. Phạt tiền từ 110.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ trên 300.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng.
11. Phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ trên 400.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng.
12. Phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa vi phạm trên 500.000.000 đồng.
13. Phạt tiền bằng 1,2 lần mức tiền phạt quy định từ Khoản 1 đến Khoản 12 Điều này nhưng không vượt quá 250.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Thiết kế, chế tạo, gia công, lắp ráp, chế biến, đóng gói hàng hóa mang dấu hiệu xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp;
b) In, dán, đính, đúc, dập khuôn hoặc bằng hình thức khác tem, nhãn, vật phẩm khác mang dấu hiệu xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, tên thương mại lên hàng hóa;
c) Nhập khẩu hàng hóa mang dấu hiệu xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, kiểu dáng công nghiệp;
d) Đặt hàng, giao việc, thuê người khác thực hiện hành vi quy định tại các Điểm a, b và c Khoản này.
14. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, kiểu dáng công nghiệp quy định tại Khoản 1 và Khoản 13 Điều này trong trường hợp không có căn cứ xác định giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm.
15. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng dấu hiệu xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại trên biển hiệu, giấy tờ giao dịch kinh doanh, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, bao bì hàng hóa.
16. Hình thức xử phạt bổ sung:
Đình chỉ hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi vi phạm quy định từ Khoản 1 đến Khoản 15 Điều này.
17. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm và tiêu hủy yếu tố vi phạm đối với hành vi vi phạm quy định từ Khoản 1 đến Khoản 15 Điều này;
b) Buộc tiêu hủy tang vật, phương tiện vi phạm nếu không loại bỏ được yếu tố vi phạm; tem, nhãn, bao bì, vật phẩm vi phạm đối với hành vi vi phạm quy định từ Khoản 1 đến Khoản 15 Điều này;
c) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hàng hóa quá cảnh xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với hành vi vi phạm quy định từ Khoản 1 đến Khoản 12 Điều này;
d) Buộc thay đổi tên doanh nghiệp, loại bỏ yếu tố vi phạm trong tên doanh nghiệp đối với hành vi vi phạm quy định từ Khoản 1 đến Khoản 15 Điều này;
đ) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định từ Khoản 1 đến Khoản 15 Điều này”.

- Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), quy định:

“1. Người nào cố ý xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam mà đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ Sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên;
d) Gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý 500.000.000 đồng trở lên;
đ) Hàng hóa vi phạm trị giá 500.000.000 đồng trở lên.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
4. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng.
b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm;
c) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm”.

Câu hỏi: Hỏi về chế độ, chính sách đối với sĩ quan CAND từ trần

Anh trai tôi là sĩ quan nghiệp vụ công tác trong lực lượng Công an nhân dân (CAND). Không may anh tôi vừa mới qua đời do tai nạn giao thông. Cho tôi hỏi, anh trai tôi được hưởng chế độ, chính sách như thế nào? Xin cảm ơn!

Người gửi: Nguyễn Thị Phương Nga Địa chỉ: Phường Tân Quang, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 14/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 15/06/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT Cổng Thông tin điện tử, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin có ý kiến giúp bạn tham khảo như sau:

* Thân nhân của sĩ quan CAND từ trần sẽ được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội như sau:

- Trợ cấp mai táng bằng 10 lần mức lương cơ sở theo quy định tại Điều 66 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.

- Trợ cấp tuất hàng tháng đối với các thân nhân đủ điều kiện hưởng chế độ tuất hàng tháng quy định tại Điều 67 và Điều 68 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 hoặc trợ cấp tuất một lần quy định tại Điều 69 và Điều 70 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.

- Ngoài các khoản trợ cấp nêu trên, thân nhân của sĩ quan CAND từ trần còn được hưởng trợ cấp một lần theo quy định tại Điều 51 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 nếu sĩ quan CAND từ trần được xác định chết do tai nạn lao động. 

* Ngoài các chế độ bảo hiểm xã hội nêu trên, thân nhân của sĩ quan CAND từ trần còn được hưởng trợ cấp theo quy định tại Điểm b và Điểm c Khoản 2 Điều 8 Thông tư số 05/2017/TT-BCA ngày 09/02/2017 của Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn thực hiện một số chế độ, chính sách đối với sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ CAND nghỉ hưu, chuyển ngành, chuyển sang công nhân Công an, thôi phục vụ trong CAND, cụ thể:

- Trợ cấp một lần bằng số năm công tác thực tế (không quy đổi) nhân với 01 tháng tiền lương liền kề trước khi chết.

- Trợ cấp một lần của thời gian tăng thêm do quy đổi quy định tại Điều 9 Thông tư số 05/2017/TT-BCA ngày 09/02/2017 (nếu có). 

Câu hỏi: Hỏi về vay tiền không trả phải làm thế nào để đòi nợ?

Tôi có một vấn đề muốn được tư vấn như sau: Cách đây 6 tháng tôi có đứng ra vay cho một người số tiền 50 triệu đồng, và được vay theo hình thức trả góp với công ty tài chính. Người đó hứa sẽ trả khoản vay hằng tháng, nhưng đã 4 tháng nay người đó đã không chịu trả và trốn tránh tôi. Vì lúc cho vay tôi không có giấy tờ gì. Vậy liệu tôi có thể có căn cứ để khởi kiện không ạ. Rất mong được tư vấn, Trân thành cảm ơn!

Người gửi: Đồng Đại Nghĩa Địa chỉ: Phường Tân Quang, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 12/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 13/06/2019

Căn cứ theo Điều 463 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

“Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”

 

Như vậy, pháp luật không có quy định bắt buộc hợp đồng vay tài sản phải bằng văn bản nhưng văn bản là hình thức rõ ràng nhất để ghi nhận mối quan hệ vay tài sản giữa bạn và người bạn kia trên thực tế để tiến hành khởi kiện. Nếu không có hợp đồng vay bằng văn bản thì bạn phải có những bằng chứng liên quan đến việc bạn vay hộ tiền cho người bạn kia thông qua những bản ghi âm, clip, tin nhắn…

Trường hợp thứ nhất, khi có một trong những bằng chứng ghi nhận về việc bạn vay tiền thay người kia và người kia có hành vi trốn tránh, không chịu trả cho bạn thì người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự 2015:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.”

 

Theo đó nếu có bằng chứng về việc vay tài sản như văn bản (giấy viết tay, thư điện tử…), ghi âm, ghi hình,… và bên kia có hành vi bỏ trốn để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ vay của bạn thì họ có thể bị xem xét về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

Bên cạnh đó, khi có các bằng chứng liên quan về hợp đồng vay bạn còn có thể khởi kiện yêu cầu người đó thanh toán lại tiền vay cũng như khoản tiền lãi khi chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền vay cho bạn. Căn cứ quy định Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 quy định nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau:

“Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.”

Lãi suất trong hợp đồng vay để xác định nghĩa vụ thanh toán trong trường hợp này được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.”

 

Như vậy, nếu vào thời điểm cho vay bạn không có giấy tờ, bằng chứng ghi nhận nợ giữa bên kia với mình, bây giờ bạn vẫn có thể gọi điện, nhắn tin với họ để ghi nhận về sự tồn tại của hợp đồng vay và mức lãi suất đặt ra (nếu có). Đó sẽ là căn cứ để phía bên cơ quan công an hoặc Tòa án nhân dân xem xét về hành vi của người này và có biện pháp xử lý phù hợp với người này.

Ngược lại, nếu bạn không có bất cứ bằng chứng nào ghi nhận về quan hệ vay hộ giữa bạn và người kia phát sinh trên thực tế thì việc khởi kiện của mình là không có căn cứ, rất khó để chứng minh và gần như là không thể đòi lại khoản tiền đã vay hộ.

Câu hỏi: Hỏi về việc Trách nhiệm của bên bán khi giao hàng không đúng chủng loại? Khởi kiện yêu cầu bồi thường khi bên bán giao hàng không đúng chất lượng?

Mình có mua cái điện thoại samsung galaxy note 8 màu xanh hàng xách tay singapore với giá 2.600.000 VNĐ. Nhưng khi giao hàng điện thoại không đúng với những gì mà cửa hàng đã giới thiệu, giờ mình trả thì họ không nhận, nói đã mua miễn trả lại và bắt mình phải chọn cái khác hoặc không thì họ gửi cái cũ. Giờ mình đã chọn gửi cái khác nhưng mình muốn cửa hàng trả lại tiền thì phải làm sao?

Người gửi: Hoàng Lan Anh Địa chỉ: Phường Hưng Thành, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 11/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 12/06/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời như sau:

Căn cứ Điều 430 Bộ luật dân sự 2015 quy định hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán.

Chất lượng của tài sản mua bán như sau:

“Điều 432. Chất lượng của tài sản mua bán

1. Chất lượng của tài sản mua bán do các bên thỏa thuận.

2. Trường hợp tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định thì thỏa thuận của các bên về chất lượng của tài sản không được thấp hơn chất lượng của tài sản được xác định theo tiêu chuẩn đã công bố hoặc theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Khi các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng về chất lượng tài sản mua bán thì chất lượng của tài sản mua bán được xác định theo tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố, quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo tiêu chuẩn ngành nghề.

Trường hợp không có tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố, quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tiêu chuẩn ngành nghề thì chất lượng của tài sản mua bán được xác định theo tiêu chuẩn thông thường hoặc theo tiêu chuẩn riêng phù hợp với mục đích giao kết hợp đồng và theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.”

 

Bạn đặt mua sản phẩm là một chiếc điện thoại di động. Nhưng tuy nhiên, khi nhận hàng thì sản phẩm đó không đúng với những gì cửa hàng đã giới thiệu. Bạn không nói rõ không đúng về chất lượng, tính năng hay hình dáng… Tuy nhiên, khi bạn yêu cầu trả lại sản phẩm thì cửa hàng không đồng ý. Căn cứ Điều 439 Bộ luật dân sự 2015 về trách nhiệm giao tài sản không đúng chủng loại thì trường hợp tài sản được giao không đúng chủng loại thì bên mua có một trong các quyền sau đây:

– Nhận và thanh toán theo giá do các bên thỏa thuận.

– Yêu cầu giao tài sản đúng chủng loại và bồi thường thiệt hại.

– Hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu việc giao không đúng chủng loại làm cho bên mua không đạt được mục đích giao kết hợp đồng.

Do đó, bạn có quyền yêu cầu hủy bỏ hợp đồng và thanh toán tiền, cũng như yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu việc giao không đúng chủng loại làm cho bên mua không đạt được mục đích giao kết hợp đồng. Nếu cửa hàng không đồng ý bạn có thể khởi kiện ra Tòa án nhân dân cấp quận, huyện nơi cửa hàng đặt trụ sở để yêu cầu thanh toán tiền và bồi thường thiệt hại.

Câu hỏi: Hỏi về mức lãi là bao nhiêu thì bị coi là cho vay nặng lãi?

Tôi vay tiền của một công ty tài chính trên mạng, số tiền vay là 10.000.000 ( mười triệu đồng) thì theo hợp đồng tôi phải trả sau 30 ngày là 13.910.000 (mười ba triệu chín trăm mười ngìn đồng). Vậy, công ty đó có phải là vi phạm luật về tội cho vay nặng lãi không? Theo pháp luật, tội đó sẽ bị xử phạt như thế nào? Tôi cần làm gì để pháp luật xử lí vi phạm đó?

Người gửi: Phan Quỳnh Như Địa chỉ: Phường Quang Trung, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 10/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 11/06/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời như sau:

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010  Lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng như sau:

“1. Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.

2. Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp hoạt động ngân hàng có diễn biến bất thường, để bảo đảm an toàn của hệ thống tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước có quyền quy định cơ chế xác định phí, lãi suất trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.”

 

Công ty kinh doanh tổ chức tín dụng thì lãi suất cho vay do hai công ty và bạn tự thỏa thuận phù hợp với quy định lãi suất cơ bản của Ngân hàng nhà nước công bố trong từng thời kỳ. Mức lãi suất cho vay được ghi trong hợp đồng tín dụng bao gồm cả lãi suất cho vay trong hạn và lãi suất áp dụng đối với khoản vay quá hạn và trong đó có quy định về lãi suất quá hạn (lãi suất phạt) được áp dụng theo nguyên tắc cao hơn lãi suất trong hạn đã được ký kết trong hợp đồng tín dụng nhưng không được vượt quá 150% lãi suất đã ký kết.

Trong trường hợp của bạn nếu hợp đồng tín dụng có lãi suất cho vay áp dụng lớn hơn 150% lãi suất cơ bản tại thời điểm đó chỉ bị vô hiệu từng phần về điều khoản về lãi suất, còn các điều khoản khác của hợp đồng vẫn có hiệu lực. Nếu có tranh chấp xảy ra thì tòa án áp dụng lãi suất cao nhất nhưng không vượt quá 150% lãi suất cơ bản.

Cho vay tiêu dùng tín chấp là một nghiệp vụ cho vay dựa trên uy tín cá nhân được đánh giá bởi tổ chức tín dụng dành cho một khách hàng mà không cần phải thế chấp tài sản. Chính vì vậy, cho vay tiêu dùng tín chấp có rủi ro cao, nên lãi suất phải cao hơn so với cho vay tiêu dùng có tài sản thế chấp của ngân hàng thương mại.

Trong trường hợp của bạn thì bạn phải xem lại hợp đồng vay tín chấp của bạn thì theo quy định lãi suất vay tiêu dùng thường cao, nếu không trả được nợ thì thường bị tính lãi quá hạn bằng 150% so với lãi suất trong hạn, đôi khi còn bị cộng thêm một số nghĩa vụ tài chính khác, sẽ dẫn đến lãi suất phải trả rất cao, càng khó trả nợ

Tuy nhiên, về nguyên tắc thì có vay, có trả, bạn nợ ngân hàng thì cũng phải tìm phương án trả nợ và có những thỏa thuận hợp lý mà bên cho vay có thể chấp nhận được để tránh mâu thuẫn, tranh chấp căng thẳng có thể xảy ra…

Như vậy, bạn số tiền vay là 10.000.000 ( mười triệu đồng) thì theo hợp đồng tôi phải trả sau 30 ngày là 13.910.000 (mười ba triệu chín trăm mười nghìn đồng )  nếu hợp đồng có ghi hay công ty này kinh doanh tín dụng thì sẽ không vi phạm pháp luật về tội cho vay nặng lãi, để tự bảo vệ mình, trước hết, bạn phải trả đầy đủ lãi suất sẽ phải trả là  trả đúng hạn và quá hạn và các những thỏa thuận với công ty để tránh trường hợp khó trả nợ sau này theo quy định của pháp luật.

 

 

Câu hỏi: Hỏi về nghĩa vụ trông giữ tài sản của chủ quán cafe

Cho tôi hỏi: Tôi đến uống cafe tại một quán quen đường được nhân viên giữ xe hướng dẫn đỗ xe ở vỉa hè trước quán nhưng không được giao vé xe. Sau đó tôi làm mất chìa khóa xe. Xin hỏi trong trường hợp mất xe này tôi có được phía quán bồi thường không? Xin Cảm ơn

Người gửi: Lê Duy Anh Địa chỉ: Phường Tân Quang, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 08/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 09/06/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời như sau:

Đăng kí kinh doanh là hoạt động của cá nhân, tổ chức khi thực hiện hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lời. Nếu không thuộc trường hợp cá nhân hoạt động thương mại không phải đăng kí kinh doanh thì bắt buộc phải thực hiện thủ tục đăng kí kinh doanh để được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, có thể hiểu đơn giản loại giấy phép này như là tờ giấy khai sinh cho việc mở một mô hình kinh doanh và chịu sự quản lý của cơ quan nhà nước dựa trên những nội dung được ghi nhận trong giấy phép đăng kinh kinh doanh như : tên, địa chỉ, vốn, ngành nghề kinh doanh, người đại diện…

Mở quán cà phê, cửa hàng nhỏ là một trong những mô hình kinh doanh mang tính chất cá nhân, hộ gia đình hoạt động thương mại tự mình hoặc có thuê nhân công thực hiện một hoặc một số hoạt động hay toàn bộ hoạt động được pháp luật cho phép như mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi. Tuy nhiên việc mở quán cà phê, cửa hàng nhỏ có phải đăng kí kinh doanh hay không thì cần phải dựa trên trên hai yếu tố: dựa trên quy định của pháp luật, cụ thể là tại Nghị định 39/2007 NĐ-CP quy định về hoạt động thương mại một cách thường xuyên không phải đăng kí kinh doanh và dựa trên tính chất, quy mô của loại hình kinh doanh có thuộc một trong những trường hợp cá nhân hoạt động thương mại không phải đăng kí kinh doanh không theo Nghị định nêu trên hay không. 

Căn cứ vào Điều 3, Nghị định 39/2007/NĐ-CP để xác định những trường hợp cá nhân hoạt động thương mại không phải đăng kí kinh doanh. Những cá nhân thực hiện các hoạt động thương mại buôn bán hàng rong, mua bán những vật dụng nhỏ lẻ mang tính chất lặt vặt không có địa điểm cố định và hay di chuyển lưu động thì không phải đăng kí kinh doanh, ví dụ như những gánh hàng rong ta thường thấy ở các con phố Hà Nội bán hoa, bán trái cây, người bán mua hàng từ khu chợ bán buôn để đem đi bán lẻ, hàng hóa được để ngay trên xe và di chuyển dọc con phố từ nơi này đến nơi khác có thể bán cho bất cứ ai gặp trên đường và có thể bán từ sáng, đến tối muộn tùy vào người bán mà không cố định về thời gian lẫn địa điểm là những trường hợp không phải đăng kí kinh doanh. Hoặc là những địa điểm bán quà vặt, đồ ăn, đồ uống ta thường hay thấy ở trước vỉa vè, cổng trường học mà cứ vào giờ tan tầm người bán mang đến bán chủ yếu cho sinh viên học sinh, mặc dù có địa điểm bán cố định, có bầy bàn ghế ngồi nhưng trường hợp này cũng không phải đăng kí kinh doanh vì địa điểm bán ở đây là không phải một địa điểm được xây dựng có cơ sở cố định, kiên cố và người bán mang tính chất là mang hàng hóa từ một nơi khác đến bán rồi lại mang về cho nên những trường hợp này người bán không có xây dựng một địa điểm kinh doanh cố định để đặt biển hiệu và trực tiếp mua bán tại đó thì cũng không xác định được vấn đề tên, địa chỉ kinh doanh ở đây để đặt ra vấn đề đăng kí kinh doanh. Cho nên những trường hợp như thế này là những trường hợp cho phép không phải đăng kí kinh doanh.

Mở quán cà phê, cửa hàng nhỏ là hình thức kinh doanh có xây dựng cơ sở kinh doanh cố định để đặt biển hiệu, tên cửa hàng và người bán trực tiếp trao đổi mua bán, thực hiện các hoạt động thương mại, dịch vụ ngay tại đó một các thường xuyên, ổn định thì bắt buộc phải đăng kí kinh doanh tại phòng đăng kí kinh doanh cấp Quận, huyện nơi đặt địa điểm kinh doanh để được cấp giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, hộ kinh doanh phải kinh doanh đúng với ngành nghề đã đăng kí trên giấy phép đăng kí kinh doanh. Nếu tiến hành hoạt động kinh doanh mà không đăng kí kinh doanh ở đây là vi phạm pháp luật, sẽ bị lập biên bản và xử phạt vi phạm hành chính theo Khoản 2, Điều 6, Nghị định 124/2015 NĐ-CP quy định xử phạt từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với các hành vi kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh mà không có giấy chứng nhận đăng kí hộ kinh doanh theo quy định.

Hiện nay trên thực tế có rất nhiều cá nhân mở quán cà phê, cửa hàng ăn, cửa hàng tạp hóa, cửa hàng kinh doanh quần áo không đăng kí kinh doanh bởi lẽ có nhiều người còn chưa biết, chưa nắm rõ quy định của pháp luật nên không có thực hiện thủ tục đăng kí kinh doanh mà ở đây mọi người chỉ quan tâm đến việc tìm địa điểm thích hợp, giá cả, trang trí…cho cửa hàng của mình. Về phía cơ quan nhà nước vẫn chưa xem xét, xử lý hết những trường hợp vi phạm cho nên nhiều người vẫn kinh doanh mà không biết mình đang vi phạm. Một số khu vực cơ quan nhà nước nới lõng cho những trường hợp vẫn hoạt động mà chưa có giấy đăng kí kinh doanh, những trường hợp này mặc dù cho phép kinh doanh nhưng vẫn phải chịu sự quản lý của UBND cấp xã, phường, thị trấn nơi đặt trụ sở kinh doanh. Khi có vấn đề vẫn bị xem xét xử phạt theo đúng quy định của pháp luật. Cho nên mọi người khi xác định kinh doanh ổn định và lâu dài thì phải thực hiện ngay thủ tục đăng kí kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật.

Câu hỏi: Hỏi về mở quán cà phê, mở cửa hàng nhỏ có cần phải đăng ký kinh doanh không?

Cho e hỏi, e muốn mở quán cà phê có cần phải đăng ký kinh doanh không?

Người gửi: Bùi Chí Huy Địa chỉ: Phường Minh Xuân, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 07/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 08/06/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời như sau:

Đăng kí kinh doanh là hoạt động của cá nhân, tổ chức khi thực hiện hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lời. Nếu không thuộc trường hợp cá nhân hoạt động thương mại không phải đăng kí kinh doanh thì bắt buộc phải thực hiện thủ tục đăng kí kinh doanh để được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, có thể hiểu đơn giản loại giấy phép này như là tờ giấy khai sinh cho việc mở một mô hình kinh doanh và chịu sự quản lý của cơ quan nhà nước dựa trên những nội dung được ghi nhận trong giấy phép đăng kinh kinh doanh như : tên, địa chỉ, vốn, ngành nghề kinh doanh, người đại diện…

Mở quán cà phê, cửa hàng nhỏ là một trong những mô hình kinh doanh mang tính chất cá nhân, hộ gia đình hoạt động thương mại tự mình hoặc có thuê nhân công thực hiện một hoặc một số hoạt động hay toàn bộ hoạt động được pháp luật cho phép như mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi. Tuy nhiên việc mở quán cà phê, cửa hàng nhỏ có phải đăng kí kinh doanh hay không thì cần phải dựa trên trên hai yếu tố: dựa trên quy định của pháp luật, cụ thể là tại Nghị định 39/2007 NĐ-CP quy định về hoạt động thương mại một cách thường xuyên không phải đăng kí kinh doanh và dựa trên tính chất, quy mô của loại hình kinh doanh có thuộc một trong những trường hợp cá nhân hoạt động thương mại không phải đăng kí kinh doanh không theo Nghị định nêu trên hay không. 

Căn cứ vào Điều 3, Nghị định 39/2007/NĐ-CP để xác định những trường hợp cá nhân hoạt động thương mại không phải đăng kí kinh doanh. Những cá nhân thực hiện các hoạt động thương mại buôn bán hàng rong, mua bán những vật dụng nhỏ lẻ mang tính chất lặt vặt không có địa điểm cố định và hay di chuyển lưu động thì không phải đăng kí kinh doanh, ví dụ như những gánh hàng rong ta thường thấy ở các con phố Hà Nội bán hoa, bán trái cây, người bán mua hàng từ khu chợ bán buôn để đem đi bán lẻ, hàng hóa được để ngay trên xe và di chuyển dọc con phố từ nơi này đến nơi khác có thể bán cho bất cứ ai gặp trên đường và có thể bán từ sáng, đến tối muộn tùy vào người bán mà không cố định về thời gian lẫn địa điểm là những trường hợp không phải đăng kí kinh doanh. Hoặc là những địa điểm bán quà vặt, đồ ăn, đồ uống ta thường hay thấy ở trước vỉa vè, cổng trường học mà cứ vào giờ tan tầm người bán mang đến bán chủ yếu cho sinh viên học sinh, mặc dù có địa điểm bán cố định, có bầy bàn ghế ngồi nhưng trường hợp này cũng không phải đăng kí kinh doanh vì địa điểm bán ở đây là không phải một địa điểm được xây dựng có cơ sở cố định, kiên cố và người bán mang tính chất là mang hàng hóa từ một nơi khác đến bán rồi lại mang về cho nên những trường hợp này người bán không có xây dựng một địa điểm kinh doanh cố định để đặt biển hiệu và trực tiếp mua bán tại đó thì cũng không xác định được vấn đề tên, địa chỉ kinh doanh ở đây để đặt ra vấn đề đăng kí kinh doanh. Cho nên những trường hợp như thế này là những trường hợp cho phép không phải đăng kí kinh doanh.

Mở quán cà phê, cửa hàng nhỏ là hình thức kinh doanh có xây dựng cơ sở kinh doanh cố định để đặt biển hiệu, tên cửa hàng và người bán trực tiếp trao đổi mua bán, thực hiện các hoạt động thương mại, dịch vụ ngay tại đó một các thường xuyên, ổn định thì bắt buộc phải đăng kí kinh doanh tại phòng đăng kí kinh doanh cấp Quận, huyện nơi đặt địa điểm kinh doanh để được cấp giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, hộ kinh doanh phải kinh doanh đúng với ngành nghề đã đăng kí trên giấy phép đăng kí kinh doanh. Nếu tiến hành hoạt động kinh doanh mà không đăng kí kinh doanh ở đây là vi phạm pháp luật, sẽ bị lập biên bản và xử phạt vi phạm hành chính theo Khoản 2, Điều 6, Nghị định 124/2015 NĐ-CP quy định xử phạt từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với các hành vi kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh mà không có giấy chứng nhận đăng kí hộ kinh doanh theo quy định.

Hiện nay trên thực tế có rất nhiều cá nhân mở quán cà phê, cửa hàng ăn, cửa hàng tạp hóa, cửa hàng kinh doanh quần áo không đăng kí kinh doanh bởi lẽ có nhiều người còn chưa biết, chưa nắm rõ quy định của pháp luật nên không có thực hiện thủ tục đăng kí kinh doanh mà ở đây mọi người chỉ quan tâm đến việc tìm địa điểm thích hợp, giá cả, trang trí…cho cửa hàng của mình. Về phía cơ quan nhà nước vẫn chưa xem xét, xử lý hết những trường hợp vi phạm cho nên nhiều người vẫn kinh doanh mà không biết mình đang vi phạm. Một số khu vực cơ quan nhà nước nới lõng cho những trường hợp vẫn hoạt động mà chưa có giấy đăng kí kinh doanh, những trường hợp này mặc dù cho phép kinh doanh nhưng vẫn phải chịu sự quản lý của UBND cấp xã, phường, thị trấn nơi đặt trụ sở kinh doanh. Khi có vấn đề vẫn bị xem xét xử phạt theo đúng quy định của pháp luật. Cho nên mọi người khi xác định kinh doanh ổn định và lâu dài thì phải thực hiện ngay thủ tục đăng kí kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật.

Câu hỏi: Hỏi về Quy định về thời gian nghỉ ốm được hưởng nguyên lương.

Cho tôi hỏi, tôi đang làm việc tại một công ty may giầy da, tôi muốn được biết pháp luật quy định như thế nào về những trường hợp khi tôi nghỉ ốm mà vẫn được hưởng 100% lương. Xin cảm ơn!

Người gửi: Phạm Thị Quỳnh Anh Địa chỉ: Phường Tân Hà, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 06/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 07/06/2019

Xin chào bạn! cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình tới BBT Cổng Thông tin điện tử. Về câu hỏi của bạn, BBT xin tư vấn và hướng dẫn cho bạn như sau:

1/ Căn cứ pháp luật 

– Bộ luật Lao động năm 2012;

– Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014;

– Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc; 

2/ Quy định về thời gian nghỉ được hưởng nguyên lương

Theo pháp luật lao động và bảo hiểm xã hội, người lao động nghỉ bệnh  được hưởng 100% lương trong các trường hợp sau đây:

  • Thứ nhất, người lao động nghỉ việc vào ngày phép năm. 

Theo quy định tại Điều 111 Bộ luật lao động năm 2012:

"Điều 111. Nghỉ hằng năm

1. Người lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động như sau:

a) 12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường;

b) 14 ngày làm việc đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có có điều kiện sinh sống khắc nghiệt theo danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành hoặc lao động chưa thành niên hoặc lao động là người khuyết tật;

c) 16 ngày làm việc đối với người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có điều kiện sinh sống đặc biệt khắc nghiệt theo danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành.

2. Người sử dụng lao động có quyền quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và phải thông báo trước cho người lao động.

3. Người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần.

4. Khi nghỉ hằng năm, nếu người lao động đi bằng các phương tiện đường bộ, đường sắt, đường thủy mà số ngày đi đường cả đi và về trên 02 ngày thì từ ngày thứ 03 trở đi được tính thêm thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hằng năm và chỉ được tính cho 01 lần nghỉ trong năm.”

Như vậy, theo quy định của pháp luật, trường hợp người lao động xin nghỉ bệnh vào ngày nghỉ phép hàng năm sẽ được hưởng 100% lương.

  • Thứ hai, Người lao động nghỉ bệnh vào ngày không phải phép năm.

Người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội mà bệnh phải nghỉ việc sẽ được hưởng chế độ ốm đau theo quy định như sau:

Điều kiện hưởng Khoản 1 Điều 3 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH:

"Điều 3. Điều kiện hưởng chế độ ốm đau

1. Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d, đ khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 2 của Nghị định số 115/2015/NĐ-CP được hưởng chế độ ốm đau trong các trường hợp sau:

a) Người lao động bị ốm đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động hoặc điều trị thương tật, bệnh tật tái phát do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền theo quy định của Bộ Y tế.

b) Người lao động phải nghỉ việc để chăm sóc con dưới 07 tuổi bị ốm đau và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền.

c) Lao động nữ đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con mà thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này.”

Như vậy, điều kiện hưởng được xác định như sau:

– Bị ốm đau, tai nạn không phải tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp tái phát phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở y tế.

– Phải nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau dưới 07 tuổi và có xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh có thẩm quyền.

– Lao động nữ đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con mà thuộc các trường hợp nêu trên.

  •  Về thời gian hưởng và mức hưởng đối với từng trường hợp cụ thể được thực hiện theo Luật bảo hiểm xã hội 2014 được chia thành 3 trường hợp  đối với người lao động bị ốm đau không phải bệnh dài ngày và người lao động mắc bệnh cần chữa trị dài ngày và trường hợp người lao động nghỉ trông con dưới 7 tuổi bị ốm. Cụ thể như sau:

– Đối với người lao động bị ốm đau không phải bệnh dài ngày theo Khoản 1 Điều 26 Luật bảo hiểm xã hội 2014.

Điều 26. Thời gian hưởng chế độ ốm đau

1. Thời gian tối đa hưởng chế độ ốm đau trong một năm đối với người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d và h khoản 1 Điều 2 của Luật này tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần và được quy định như sau:

a) Làm việc trong điều kiện bình thường thì được hưởng 30 ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới 15 năm; 40 ngày nếu đã đóng từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm; 60 ngày nếu đã đóng từ đủ 30 năm trở lên;

b) Làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành hoặc làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên thì được hưởng 40 ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới 15 năm; 50 ngày nếu đã đóng từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm; 70 ngày nếu đã đóng từ đủ 30 năm trở lên.

Trong đó, số ngày nghỉ việc được hưởng chế độ ốm đau không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.

– Đối với người lao động mắc bệnh cần chữa trị dài ngày.

Theo khoản 2 Điều 26 Luật bảo hiểm xã hội 2014 quy định thì:

2. Người lao động nghỉ việc do mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành thì được hưởng chế độ ốm đau như sau:

a) Tối đa 180 ngày tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần;

b) Hết thời hạn hưởng chế độ ốm đau quy định tại điểm a khoản này mà vẫn tiếp tục điều trị thì được hưởng tiếp chế độ ốm đau với mức thấp hơn nhưng thời gian hưởng tối đa bằng thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.

Thời gian hưởng: Tối đa 180 ngày trong năm tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần. Nếu nghỉ hết 180 ngày mà vẫn ốm thì được hưởng tiếp nhưng tối đa bằng thời gian tham gia BHXH.

Số ngày nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau bao gồm cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần.

– Đối với người lao động nghỉ trông con dưới 7 tuổi bị ốm.

Thời gian hưởng: tối đa 20 ngày làm việc nếu con dưới 3 tuổi, tối đa 15 ngày làm việc nếu con từ đủ 3 đến dưới 7 tuổi, căn cứ Khoản 1 Điều 27 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014:

Điều 27. Thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau

1. Thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau trong một năm cho mỗi con được tính theo số ngày chăm sóc con tối đa là 20 ngày làm việc nếu con dưới 03 tuổi; tối đa là 15 ngày làm việc nếu con từ đủ 03 tuổi đến dưới 07 tuổi.

Điều 6 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH quy định mức hưởng của các trường hợp trên như sau:

Điều 6. Mức hưởng chế độ m đau

1. Mức hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại khoản 1 Điều 26 và Điều 27 của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 được tính như sau:

Mức hưởng chế độ ốm đau = Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc x 75 (%) x Số ngày nghỉ việc được hưởng chế độ ốm đau
24 ngày

– Số ngày nghỉ việc được hưởng chế độ ốm đau được tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.

2. Mức hưởng chế độ ốm đau đối với người lao động nghỉ việc do mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 được tính như sau:

Mức hưởng chế độ ốm đau đối với bệnh cần chữa trị dài ngày = Tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc x Tỷ lệ hưởng chế độ ốm đau (%) x Số tháng nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau

Trong đó:

a) Tỷ lệ hưởng chế độ ốm đau được tính bằng 75% đối với thời gian hưởng chế độ ốm đau của người lao động trong 180 ngày đầu. Sau khi hưởng hết thời gian 180 ngày mà vẫn tiếp tục điều trị thì tỷ lệ hưởng chế độ ốm đau cho thời gian tiếp theo được tính như sau:

– Bằng 65% nếu người lao động đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 30 năm trở lên;

– Bằng 55% nếu người lao động đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm;

– Bằng 50% nếu người lao động đã đóng bảo hiểm xã hội dưới 15 năm.

b) Tháng nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau được tính từ ngày bắt đầu nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau của tháng đó đến ngày trước liền kề của tháng sau liền kề. Trường hợp có ngày lẻ không trọn tháng thì cách tính mức hưởng chế độ ốm đau cho những ngày này như sau:

Mức hưởng chế độ ốm đau đối với bệnh cần chữa trị dài ngày = Tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc x Tỷ lệ hưởng chế độ ốm đau (%) x Số ngày nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau
24 ngày

Trong đó:

– Tỷ lệ hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại điểm a khoản này.

– Số ngày nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần.

3. Trường hợp người lao động bị ốm đau, tai nạn mà không phải tai nạn lao động hoặc nghỉ việc hưởng chế độ khi con ốm đau ngay trong tháng đầu thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà thời gian nghỉ việc từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì mức hưởng chế độ ốm đau được tính trên tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của chính tháng đó.

4. Người lao động nghỉ việc hưởng trợ cấp ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng bảo hiểm xã hội tháng đó. Thời gian này không được tính để hưởng bảo hiểm xã hội.

5. Trong thời gian người lao động nghỉ việc hưởng trợ cấp ốm đau do bị mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày, người lao động được hưởng bảo hiểm y tế do quỹ bảo hiểm xã hội đóng cho người lao động.

6. Không điều chỉnh mức hưởng chế độ ốm đau khi Chính phủ điều chỉnh mức lương cơ sở, mức lương tối thiểu vùng.

Câu hỏi: Hỏi về con ốm, cha mẹ được nghỉ mấy ngày?

Cho em hỏi : Theo quy định, khi con bị ốm đau, người lao động tham gia bảo hiểm xã hội sẽ được nghỉ bao nhiêu ngày để chăm sóc con? Em cảm ơn!

Người gửi: Đào Nhật Tân Địa chỉ: Phường Tân Quang, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 05/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 06/06/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời như sau:

Thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau

Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định người lao động phải nghỉ việc để chăm sóc con dưới 07 tuổi bị ốm đau và có xác nhận của cơ sở khám, chữa bệnh có thẩm quyền thì được hưởng chế độ ốm đau.

Điều 26 Luật này chỉ rõ: Thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau trong một năm cho mỗi con được tính theo số ngày chăm sóc con tối đa là 20 ngày làm việc, nếu con dưới 03 tuổi; tối đa là 15 ngày làm việc nếu con từ đủ 03 tuổi đến dưới 07 tuổi.

Trong khi đó, theo hướng dẫn của Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH, trường hợp trong cùng một thời gian người lao động có từ 2 con trở lên dưới 7 tuổi bị ốm đau, thì thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau được tính bằng thời gian thực tế người lao động nghỉ việc chăm sóc con ốm đau, tối đa 20 ngày làm việc nếu con dưới 03 tuổi, tối đa 15 ngày làm việc nếu con từ đủ 03 tuổi đến dưới 07 tuổi.

Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội thì tùy theo điều kiện của mỗi người để luân phiên nghỉ việc chăm sóc con ốm đau, thời gian tối đa hưởng chế độ khi con ốm đau trong một năm của người cha hoặc người mẹ cho mỗi con theo quy định nêu trên.

Mức hưởng chế độ khi con ốm đau

Theo Điều 28 Luật Bảo hiểm xã hội 2014, người lao động nghỉ làm để chăm con ốm theo quy định nêu trên thì mức hưởng tính theo tháng bằng 75% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc.

Như vậy, trong thời gian con ốm, người lao động nghỉ làm thì tiền lương của người lao động không phải do doanh nghiệp trả mà do cơ quan bảo hiểm xã hội chi trả. Mức trả bằng 75% tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc.

Câu hỏi: Hỏi về viên chức muốn xin nghỉ việc cần phải làm những thủ tục gì? Viên chức được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp nào?

Tôi là giáo viên dạy cấp 2. Ngày 1/9/2017 tôi bắt đầu đi làm sau khi thi đậu viên chức. Hết thời gian tập sự sau 9 tháng vào 1/6/2018. Hiện tại là 02/06/2019. Vậy tôi muốn hỏi bây giờ tôi xin nghỉ việc thì cần phải làm những thủ tục gì? Có được hưởng trợ cấp gì thêm không? tôi xin cảm ơn!

Người gửi: Bùi Ngọc Anh Địa chỉ: Phường Tân Hà, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 04/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 05/06/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, BBT xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Đơn phương chấm dứt hợp đồng là việc người sử dụng lao động hoặc người lao động dựa trên ý chí của mình chấm dứt hợp đồng trước thời hạn theo quy định của pháp luật. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động được điều chỉnh bởi quy định tại Bộ luật lao động 2012, tuy nhiên đối với các trường hợp khác như là cán bộ, công chức, viên chức muốn chấm dứt hợp đồng theo hình thức đơn phương thì điều chỉnh bởi Luật viên chức 2010.

Thứ nhất xác định quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của viên chức

Căn cứ theo Điều 38  tại Nghị định 29/2012/NĐ-CP về giải quyết thôi việc cho viên chức như sau:

“1. Viên chức được giải quyết thôi việc trong các trường hợp sau:

a) Viên chức có đơn tự nguyện xin thôi việc được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền đồng ý bằng văn bản;

b) Viên chức đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định tại Khoản 4 và Khoản 5 Điều 29 Luật Viên chức;

c) Đơn vị sự nghiệp công lập đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc vớiviên chức khi có một trong các trường hợp quy định tại Điểm c, Điểm d và Điểm đ Khoản 1 Điều 29 Luật Viên chức.”

 

Như vậy, khi có nguyện vọng xin nghỉ việc bạn cần có đơn tự nguyện xin thôi việc và được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền đồng ý bằng văn bản.

Thứ hai, xác định thủ tục xin nghỉ việc của viên chức

Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì hiện nay bạn đã hết thời gian tập sự viên chức và đang là viên chức. Tuy nhiên bạn lại không nêu rõ bạn đang làm việc theo hợp đồng vô thời hạn hay hợp đồng có thời hạn nên chúng tôi chia ra hai trường hợp.

Nếu bạn đang là viên chức và làm việc theo hợp đồng vô thời hạn căn cứ vào khoản 4 điều 29 Luật Viên chức 2010 như sau:

“Điều 29. Đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc

4. Viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nhưng phải thông báo bằng văn bản cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập biết trước ít nhất 45 ngày; trường hợp viên chức ốm đau hoặc bị tai nạn đã điều trị 06 tháng liên tục thì phải báo trước ít nhất 03 ngày”

 

Theo đó, đối với viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc không xác định thời hạn khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động chỉ cần đáp ứng thời gian báo trước cho đơn vị. Theo đó bạn phải gửi đơn nghỉ việc thông báo nghỉ cho người sử dụng lao động trước ít nhất 45 ngày. Tuy nhiên nếu trong trường hợp bạn đau ốm hay bị tai nạn điều trị liên tục từ 6 tháng trở lên mà vẫn không thể quay trở lại làm việc thì bạn phải báo trước cho người sử dụng lao động ít nhất 3 ngày. Sau khi tiếp nhận đơn, phía đơn người sử dụng lao động sẽ xem xét, đưa ra quyết định và giải quyết các chế độ liên quan cho bạn.

Nếu bạn đang là viên chức và làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn căn cứ vào điều 5 điều 29 Luật viên chức 2010:

“Điều 29. Đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc

5. Viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trong các trường hợp sau:

a) Không được bố trí theo đúng vị trí việc làm, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm các điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng làm việc;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc không được trả lương đúng thời hạn theo hợp đồng làm việc;

c) Bị ngược đãi; bị cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình thật sự có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng;

đ) Viên chức nữ có thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở chữa bệnh;

e) Viên chức ốm đau hoặc bị tai nạn đã điều trị từ 03 tháng liên tục mà khả năng làm việc chưa hồi phục.

6. Viên chức phải thông báo bằng văn bản về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập biết trước ít nhất 03 ngày đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, đ và e khoản 5 Điều này; ít nhất 30 ngày đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 5 Điều này”

 

Theo đó, đối với viên chức làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn, khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động bạn phải đáp ứng hai điều kiện: một là lý do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 5 Điều 29 Luật viên chức 2010, chỉ khi nào bạn có những lý do được quy định trên thì bạn mới có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng đúng pháp luật. Hai là thời gian báo trước theo từng trường hợp cụ thể theo quy định của luật như sau:

+ Đối với trường hợp bạn nghỉ việc do không được bố trí theo đúng vị trí việc làm, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm các điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng làm việc; không được trả lương đầy đủ hoặc không được trả lương đúng thời hạn theo hợp đồng làm việc; bị ngược đãi; bị cưỡng bức lao động; bạn có thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở chữa bệnh; ốm đau hoặc bị tai nạn đã điều trị từ 03 tháng liên tục mà khả năng làm việc chưa hồi phục. Với những lý do trên bạn cần có bằng chứng chứng minh hoặc giấy tờ có liên quan chứng minh hợp lý thì bạn chỉ cần viết đơn gửi cho người sử dụng lao động báo trước ít nhất 03 ngày.

+ Đối với trường hợp bạn nghỉ việc do bản thân bạn hoặc gia đình thật sự có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng thì bạn viết đơn gửi cho người sử dụng lao động báo trước ít nhất nhất 30 ngày.

Tóm lại, khi bạn có mong muốn nghỉ việc, bạn đáp ứng được điều kiện theo quy định của pháp luật sau đó bên đơn vị của bạn sẽ tiếp nhận đơn và giải quyết cho bạn căn cứ  theo Điều 38 Nghị định 29/2012/NĐ-CP quy định về giải quyết thôi việc cho viên chức như sau:

“3. Thủ tục giải quyết thôi việc

a) Viên chức có nguyện vọng thôi việc có văn bản gửi người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập.

b) Trong thời hạn 20 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, nếu đồng ý cho viên chức thôi việc thì người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập ra quyết định chấm dứt hợp đồng làm việc; nếu không đồng ý cho viên chức thôi việc thì trả lời viên chức bằng văn bản và nêu rõ lý do theo quy định tại Khoản 2 Điều này….”.

Trong khoảng thời gian chờ đơn vị giải quyết chế độ thôi việc cho bạn, bạn vẫn đến đơn vị đi làm, vẫn được hưởng lương cho đến ngày bạn nghỉ việc theo quy định. Căn cứ tại Điều 12 Luật viên chức 2010 về chế độ của bạn như sau:

“1. Được trả lương tương xứng với vị trí việc làm, chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý và kết quả thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được giao; được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi trong trường hợp làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn hoặc làm việc trong ngành nghề có môi trường độc hại, nguy hiểm, lĩnh vực sự nghiệp đặc thù.

2. Được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền làm đêm, công tác phí và chế độ khác theo quy định của pháp luật và quy chế của đơn vị sự nghiệp công lập.

3. Được hưởng tiền thưởng, được xét nâng lương theo quy định của pháp luật và quy chế của đơn vị sự nghiệp công lập.”

Ngoài những khoản tiền lương, tiền trợ cấp như những ngày làm việc bình thường trong thời gian chờ giải quyết thì khi nghỉ việc nếu đáp ứng đủ điều kiện bạn có thể hưởng bảo hiểm thất nghiệp, hoặc hưởng bảo hiểm xã hội một lần sau khi nghỉ việc.

Câu hỏi: Hỏi về giấy phép kinh doanh thực phẩm gồm những gì? Trình tự xin cấp giấy phép cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh thực phẩm.

Cho e hỏi : Em đang cung cấp thịt ướp sẵn cho vài nhà. Em muốn nâng cấp và phát triển thêm để phục vụ tốt hơn. Hiện nay em chưa có giấy tờ gì liên quan đến việc đó. Em xin hỏi là em phải làm gì? Em có một chiếc xe tải chở thực phẩm đó. Em dán decal quảng cáo danh mục thực phẩm của em khi chưa có giấy tờ gì như vậy có gặp rắc rối gì không? Để đc đăng ký em phải làm thế nào? Em xin cám ơn. Mong nhận được hồi đáp của quý cơ quan!

Người gửi: Đinh Thị Tuyết Địa chỉ: Phường Hưng Thành , TP Tuyên Quang Ngày gửi: 03/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 04/06/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, BBT  xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Như bạn trình bày:  Bạn đang cung cấp thịt ướp sẵn cho vài nhà. Bạn muốn nâng cấp và phát triển thêm để phục vụ tốt hơn. Bạn cần làm thủ tục đăng kí kinh doanh  bạn có thể đăng kí kinh doanh theo hộ kinh doanh cá thể  như sau:
Điều 66 Nghị định 78/2015/NĐ-CP hướng dẫn về thủ tục đăng ký kinh doanh của Luật doanh nghiệp 2014 quy định như sau:

“ Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng kýkinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.”

 

Hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh cá thể

– Giấy đề nghị đăng ký hộ kinh doanh

– Bản sao CMND của các cá nhân tham gia hộ kinh doanh hoặc người đại diện hộ gia đình

– Biên bản họp nhóm cá nhân về việc thành lập hộ kinh doanh (trường hợp hộ kinh doanh do một nhóm cá nhân thành lập); chứng chỉ hành nghề của cá nhân hoặc đại diện hộ gia đình (trường hợp kinh doanh ngành nghề cần chứng chỉ hành nghệ); Bản sao hợp lệ văn bản xác định vốn pháp định (trường hợp ngành nghề kinh doanh cần vốn pháp định).

– Giấy đăng ký thuế mẫu 03 của chi cục thuế ( Quyết định của UB về chế độ liên thông một cửa và trách nhiệm giải quyết hồ sơ hành chính đăng ký hộ kinh doanh và cấp giấy Chứng nhận đăng ký thuê trên địa bàn quận).

Quy trình quản lý hộ kinh doanh cá thể

UBND quận quản lý về đăng ký, thay đổi nội dung kinh doanh

Hiện nay, ngành nghề bạn kinh doanh là ngành nghề có điều kiện bạn phải có giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm trong sản xuất kinh doanh thực phẩm quy định tại Điều 19 Luật An toàn thực phẩm 2010:

– Cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải bảo đảm các điều kiện sau đây:

– Địa điểm: Có địa điểm, diện tích thích hợp, có khoảng cách an toàn đối với nguồn gây độc hại, nguồn gây ô nhiễm và các yếu tố gây hại khác;

+ Nhà xưởng, trang thiết bị

+ Trang thiết bị chính: Có đủ trang thiết bị phù hợp để xử lý nguyên liệu, chế biến, đóng gói, bảo quản và vận chuyển các loại thực phẩm khác nhau; có đủ trang thiết bị, dụng cụ, phương tiện rửa và khử trùng, nước sát trùng, thiết bị phòng, chống côn trùng và động vật gây hại;

– Hệ thống phụ trợ

+ Hệ thống xử lý chất thải: Có hệ thống xử lý chất thải và được vận hành thường xuyên theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường;

+Người sản xuất, kinh doanh

+ Vệ sinh nhà xưởng, trang thiết bị

+ Hệ thống quản lý chất lượng

+ Phòng kiểm nghiệm

– Chủ cơ sở và người trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm đã được các cơ quan có chức năng quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản của ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tập huấn kiến thức về an toàn thực phẩm và cấp xác nhận tập huấn kiến thức về an toàn thực phẩm.

– Giấy chứng nhận sức khoẻ của chủ cơ sở và người trực tiếp sản xuất kinh doanh thực phẩm đã được cơ sở y tế cấp huyện trở lên xác nhận.

– Duy trì các điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm và lưu giữ hồ sơ về nguồn gốc, xuất xứ nguyên liệu thực phẩm và các tài liệu khác về toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm 

Nếu trong trường hợp bạn kinh doanh và dán đề cal quảng cáo danh mục thực phẩm của bạn khi chưa có giấy tờ gì thì bạn sẽ không được phép kinh doanh nghành nghề này và xử phạt vi phạm quy định tại Điều 6 Nghị định 124/2015/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 185/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định về  Hành vi vi phạm về hoạt động kinh doanh theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

– Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động kinh doanh không đúng địa điểm, trụ sở ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

– Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh mà không có Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh theo quy định.

– Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp mà không có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định.

– Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi tiếp tục hoạt động kinh doanh trong thời gian bị cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đình chỉ hoạt động hoặc thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

– Phạt tiền gấp hai lần mức tiền phạt đối với hành vi vi phạm quy định từ Khoản 1 đến Khoản 4 Điều này trong trường hợp kinh doanh ngành, nghề thuộc danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.”

Câu hỏi: Hỏi về việc có được kinh doanh tại nơi không đăng ký thường trú, tạm trú không? Địa điểm đăng ký hộ kinh doanh

Em có hộ khẩu ở Phường Minh Xuân - TP Tuyên Quang, nhưng em đang mở 01 của hàng kinh doanh vật liệu xây dựng tại huyện Lập Thạch - Tỉnh Vĩnh Phúc. Thuê người bán. Nhưng em đến xin cấp giấy phép kinh doanh, phòng tài chính của huyện không cấp vì họ nói em không có hộ khẩu, tạm trú ở huyện Lập Thạch. Như vậy có đúng không ạ?

Người gửi: Phạm Quỳnh Anh Địa chỉ: Phường Minh Xuân, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 02/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 03/06/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, BBT  xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Tại điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị định 78/2015/NĐ-CP quy định:

“Điều 13. Cơ quan đăng ký kinh doanh

b) Ở cấp huyện: Phòng Tài chính – Kế hoạch thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện nhiệm vụ đăng ký hộ kinh doanh quy định tại Điều 15 Nghị định này (sau đây gọi chung là cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện).”

 

Cơ quan đăng ký hộ kinh doanh là phòng tài chính – kế hoạch thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện. Hiện tại, bạn đang thực hiện việc đăng ký tại phòng tài chính – kế hoạch nên là đang đăng ký thành lập hộ kinh doanh. Tại Điều 72 Nghị định 78/2015/NĐ-CP quy định:

“Điều 72. Địa điểm kinh doanh của hộ kinh doanh

Đối với hộ kinh doanh buôn chuyến, kinh doanh lưu động thì phải chọn một địa điểm cố định để đăng ký hộ kinh doanh. Địa điểm này có thể là nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, nơi đăng ký tạm trú hoặc địa điểm thường xuyên kinh doanh nhất, nơi đặt địa điểm thu mua giao dịch. Hộ kinh doanh buôn chuyến, kinh doanh lưu động được phép kinh doanh ngoài địa điểm đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện nhưng phải thông báo cho cơ quan thuế, cơ quan quản lý thị trường nơi đăng ký trụ sở và nơi tiến hành hoạt động kinh doanh.”

Theo đó, đối với địa điểm kinh doanh của hộ kinh doanh phải được thành lập tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, đăng ký tạm trú hoặc địa điểm thường xuyên kinh doanh nhất hoặc nơi đặt địa điểm thu mua giao dịch. Bạn muốn mở cửa hàng kinh doanh tại Lập Thạch thì phải có đăng ký thường trú hoặc tạm trú tại địa phương này. Vì hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh nên nếu cửa hàng của bạn có từ 10 lao động trở lên thì bạn sẽ phải đăng ký thành lập doanh nghiệp căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 66 Nghị định này:

“3. Hộ kinh doanh có sử dụng từ mười lao động trở lên phải đăng ký thành lập doanh nghiệp theo quy định.”

Đối với đăng ký thành lập doanh nghiệp, pháp luật không quy định bắt buộc phải đăng ký tại nơi bạn thường trú hay tạm trú như đăng ký thành lập hộ kinh doanh.

Câu hỏi: Hỏi về quy định cách treo biển hiệu của nhà nghỉ.

 Cho em hỏi : Em kinh doanh nhà nghỉ với giấy phép kinh doanh là hộ gia đình cho thuê phòng lưu trú. Cho em hỏi là em đặt bảng đèn led treo trên cao và ghi chữ HOTEL, MOTEL có được không? Hay chỉ có công ty mới được ghi HOTEL còn hộ kinh doanh cá thể thì không được ghi HOTEL, MOTEL mà phải ghi rõ chữ NHÀ NGHỈ mới được. Em xin cảm ơn!

Người gửi: Nguyễn Ngọc Linh Địa chỉ: Xã Trung Môn , Yên Sơn, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 01/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 02/06/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, BBT xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Về bản chất, nhà nghỉ, hotel, motel đều là kinh doanh dịch vụ lưu trú. Việc phân loại loại hình kinh doanh phụ thuộc vào quy mô, số lượng phòng, chất lượng dịch vụ. Căn cứ theo Điều 21, Điều 22, Điều 26 Nghị định 168/2017/NĐ-CP về điều kiện tối thiểu của cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ đối với khách sạn, nhà nghỉ du lịch như:

– Đối với khách sạn

+ Có hệ thống điện, hệ thống cấp nước sạch và thoát nước

+ Có tối thiểu 10 buồng ngủ; có quầy lễ tân, phòng vệ sinh chung

+ Có nơi để xe cho khách đối với khách sạn nghỉ dưỡng và khách sạn lề đường

+ Có giường, đệm, chăn, gối, khăn mặt, khăn tắm; thay bọc đệm, bọc chăn, bọc gối, khăn mặt, khăn tắm khi có khách mới

 + Người quản lý, nhân viên được tập huấn về nghiệp vụ du lịch…

– Đối với nhà nghỉ du lịch

+ Có điện, nước sạch và hệ thống thoát nước

+ Có khu vực tiếp khách và phòng ngủ; có phòng tắm, phòng vệ sinh chung trong trường hợp phòng ngủ không có phòng tắm, vệ sinh riêng…

– Đối với Motel thì có kết cấu đơn giản, quy mô nhỏ hơn hotel, thường được  xây dựng ở gần các đường quốc lộ cho khách vãng lai.

Do đó, hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào quy định công ty thì được đặt biển Hotel, Motel, còn hộ kinh doanh thì không. Việc đặt biển hiệu nào tùy thuộc vào loại hình cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú của gia đình bạn và phải đảm bảo đầy đủ quy định trong giấy phép kinh doanh bạn đã đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Căn cứ theo Điều 22, Điều 23 Nghị định 103/2009/NĐ-CP về các hình thức biển hiệu, mỹ quan, chữ viết, vị trí và nội dung biển hiệu quy định như sau:

“Điều 22. Các hình thức biển hiệu

Việc viết, đặt, treo, dán, dựng, lắp biển hiệu, sau đây gọi chung là viết, đặt biển hiệu, tại trụ sở, nơi kinh doanh của tổ chức, cá nhân dưới các hình thức bảng, biển, hộp đèn, hệ thống đèn uốn chữ (neonsight) hoặc các hình thức khác, nhằm giới thiệu tên gọi, địa chỉ giao dịch của tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam không phải xin phép nhưng phải tuân theo những quy định tại Điều 23 Quy chế này.

Điều 23. Mỹ quan, chữ viết, vị trí và nội dung biển hiệu

1. Mỹ quan, chữ viết biển hiệu:

a) Biển hiệu phải bảo đảm mỹ quan;

b) Biển hiệu phải viết bằng chữ Việt Nam; trường hợp muốn thể hiện tên viết tắt, tên giao dịch quốc tế, tên, chữ nước ngoài phải ghi ở phía dưới, kích thước nhỏ hơn chữ Việt Nam.

2. Vị trí biển hiệu:

Biển hiệu chỉ được viết, đặt sát cổng, hoặc mặt trước của trụ sở hoặc nơi kinh doanh của tổ chức, cá nhân; mỗi cơ quan, tổ chức chỉ được viết, đặt một biển hiệu tại cổng; tại trụ sở hoặc nơi kinh doanh độc lập với tổ chức, cá nhân khác chỉ viết, đặt một biển hiệu ngang và không quá hai biển hiệu dọc.

3. Nội dung biển hiệu:

a) Tên cơ quan chủ quản trực tiếp (nếu có);

b) Tên gọi đầy đủ bằng chữ Việt Nam đúng với quyết định thành lập hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền cấp;

c) Loại hình doanh nghiệp hoặc hợp tác xã;

d) Ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh chính (đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ);

đ) Địa chỉ giao dịch, số điện thoại (nếu có);

e) Trên biển hiệu được thể hiện biểu tượng (logo) đã đăng ký với cơ quan có thẩm quyền, diện tích logo không quá 20% diện tích biển hiệu, không được thể hiện thông tin, hình ảnh quảng cáo cho bất cứ loại hàng hóa, dịch vụ nào.”

 

Theo đó, bạn có thể đặt biển hiệu dưới các hình thức như bảng, biển, hộp đèn, hệ thống đèn néon uốn chữ (neonsight) hoặc các hình thức khác. Biển hiệu được viết, đặt sát cổng, hoặc mặt trước của trụ sở hoặc nơi kinh doanh. Ngoài ra, nội dung biển hiệu phải có tên gọi đầy đủ bằng chữ Việt Nam đúng với quyết định thành lập hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền cấp, có thể hiện ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. 

Kết luận, bạn có thể ghi biển hiệu của mình là hotel, motel, nhà nghỉ nhưng phải đảm bảo đúng với quyết định thành lập, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền cấp và điều kiện tối thiểu của cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ đối với từng loại hình cơ sở lưu trú.

Câu hỏi: Ký kết Hợp đồng lao động với người lao động đã nghỉ hưu

Xin hỏi tôi muốn ký hợp đồng ba năm với lao động đã nghỉ hưu làm công việc chuyên môn kỹ thuật có được không?

Người gửi: Nguyễn Hải Anh Địa chỉ: Đường Quang Trung, Phường Tân Quang, TP Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày gửi: 28/03/2019
Câu hỏi: Các chế độ bảo hiểm của người lao động nữ trong thời gian nghỉ thai sản

Xin hỏi :Tôi nghỉ thai sản đúng quy định hiện hành là 04 tháng, có hồ sơ hợp lệ. Vậy tôi có phải đóng bảo hiểm y tế trong 4 tháng nghỉ này không?

Người gửi: Nguyễn Phương Anh Địa chỉ: Tổ 8, Phường Hưng Thành, TP Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử
Ngày gửi: 26/03/2019
Câu hỏi: Câu hỏi chính sách theo Nghị định 116/2010/NĐ-CP

Theo tôi được biết, ngày 28/4/2017 Chính phủ đã ban hành Quyết Định số 582/QĐ-TTg phê duyệt thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016- 2020, xin hỏi: Viên chức trạm khuyến nông huyện được giao phụ trách xã thuộc khu vực III tại Quyết Định số 582/QĐ-TTg có được hưởng chính sách theo nghị định 116/2010 hay không? Xin cám ơn!

Người gửi: Ma Bá Thành Địa chỉ: Trạm khuyến nông huyện Chiêm Hóa
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Nội vụ
Ngày gửi: 23/03/2018
Câu hỏi: Thủ tục giấy phép xây dựng nhà ở

Mảnh đất nhà tôi đang ở ngày trước thuộc quản lý của Rạp Chiếu bóng, giờ bàn giao lại cho UBND huyện (Sơn Dương) quản lý. Trước gia đình tôi mua lại căn nhà của cơ quan và tham gia đóng thuế đất từ trước năm 1990. Hiện nay nhà ở của gia đình tôi xuống cấp nghiêm trọng có thể sụp đổ bất cứ lúc nào. Tôi muốn sửa chữa lại có được không? nếu được cần làm những thủ tục gì?

Mảnh đất đó có đủ điều kiện để cấp sổ đỏ hay không và nếu thu hồi lại, gia đình tôi có được cắm lại chỗ ở mới không?

Tôi xin chân thành cám ơn!

Người gửi: Đinh Gia Huyên Địa chỉ: Tổ dân phố Quyết Thắng, TT. Sơn Dương, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Tài nguyên và Môi trường
Ngày gửi: 21/02/2018
Câu hỏi: Hỏi về làm đường

Tôi là Nguyễn Thị Quý, công dân tổ 40, phường Minh Xuân, thành phố Tuyên Quang. Tôi xin hỏi 1 việc như sau: Tổ 40 là nơi ra đời chi bộ Mỏ Than (chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh). Tuy nhiên con đường Nguyễn Thị Minh Khai, đặc biệt là đường vào ngõ 38 qua khu dân cư nơi đây đã xuống cấp nghiêm trọng gần chục năm nay. Mặt đường ngay phía trước nhà tôi lởm chởm toàn đá, ổ gà. Ngay phía đầu ngõ rẽ từ Tỉnh ủy xuống còn 1 phần taluy bằng đất gò ụ nhô ra dài hàng chục mét che khuất tầm nhìn, nguy hiểm cho người tham gia giao thông. Hơn nữa hai năm trở lại đây trong khu dân cư có nhiều hộ xây, sửa nhà cửa khiến cát sỏi trôi ra đường rất nhiều, phương tiện tham gia giao thông khi tránh nhau thường bị trượt cát loạng choạng mà ngã. Đã có rất nhiều người ngã xe, va chạm giao thông bị thương phải đưa đi sơ cứu tại bệnh viện. 

Người dân trong tổ đã kiến nghị nhiều lần đến cấp có thẩm quyền, và đã nhiều lần được hứa sẽ sớm làm con đường này. Nhân dân trong tổ tin tưởng lời hứa của cấp có thẩm quyền, nhưng mong mỏi từ năm này qua năm khác mà con đường vẫn ngày càng xuống cấp nghiêm trọng. Hôm nay tôi đưa câu hỏi này đến Cổng Thông tin điện tử tỉnh đề nghị được cấp có thẩm quyền trả lời bao giờ thì con đường qua tổ 40 Minh Xuân, nơi ra đời chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh được khởi công xây dựng đáp ứng niềm mong mỏi của nhân dân.

Tôi mong nhận được phản hồi sớm. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Nguyễn Thị Quý Địa chỉ: Tổ 40, phường Minh Xuân, thành phố Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Giao thông vận tải
Ngày gửi: 17/01/2018
Câu hỏi: Việc làm cho sinh viên cử tuyển

Nhờ Ban Biên Tập chuyển lời hộ em. 

Theo NĐ-CP số 134/2006 Tại chương III Điều 11 có ghi rõ về việc tiếp nhận, phân công công tác cho người được cử đi học theo chế độ cử tuyển sau khi tốt nghiệp. Và trong khoản 1 điều 11 có ghi rõ là "Hàng năm, các cơ sở giáo dục gửi danh sách, bàn giao hồ sơ và bằng tốt nghiệp của người học theo chế độ cử tuyển tốt nghiệp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh". Vậy cho em hỏi,  Em là sinh viên trường ĐHXD Hà Nội tốt nghiệp năm 2015 và sau khi ra trường không thấy Sở Giáo dục bàn giao hồ sơ của em cho UBND tỉnh để phân công công tác theo chế độ cử tuyển. Em xin cảm ơn.

Người gửi: Đặng Bùi Anh Đức Địa chỉ: Yên Sơn tuyên quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Nội vụ
Ngày gửi: 15/10/2017
Câu hỏi: Về việc chợ Phan Thiết tràn lan ra đường phố

Từ khi xây dựng lại chợ Phan Thiết (ngay trung tâm thành phố, gần Tỉnh uỷ), bà con tràn ra đường (đường Hồng Thái) buôn bán, rác thải, nước thải vứt ra đầy đường rất mất vệ sinh; những hộ gia đình nằm trong khu vực này, trong đó có gia đình tôi và các tổ 15,7,16,...rất bất tiện trong việc di chuyển, đôi khi còn bị người bán hàng chửi bới, đánh đập vì đi ô tô vào đây.

Vấn đề này tôi cũng đã thấy chính quyền (UBND phường Phan Thiết) có thời gian xử lý, nhưng xử lí không triệt để (cụ thể: không thu hàng hoá của người sai phạm, cho bán hàng nửa bên trong chợ từ khách sạn Thành Trung vào trong nhưng người bán hàng vẫn lấn ná ra ngoài, chỉ thực hiện được 1 thời gian ngắn xong lại đâu vào đấy...).

Vậy tôi xin hỏi trách nhiệm giải tán khu chợ tạm này thuộc về ai hay cơ quan chức năng nào và bao giờ thì xử lí xong?

Đề nghị cơ quan đó có phương án giải tán khu vực trên, xử lí rác thải, nước thải rõ ràng để tình hình cuộc sống của chúng tôi trở lại bình thường.

Tôi xin chân thành cảm ơn các vị lãnh đạo tỉnh đã lắng nghe!

Người gửi: Trần Văn Khải Địa chỉ: Tổ 16, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Thành phố Tuyên Quang
Ngày gửi: 21/09/2017
Câu hỏi: Lập dự toán xây dựng công trình quy mô nhỏ

Tại điểm a khoản 1 Điều 82 Luật xây dựng năm 2014 quy định thẩm quyền thẩm định thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công và dự toán xây dựng: “Đối với công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước: Cơ quan chuyên môn về xây dựng theo phân cấp chủ trì thẩm định thiết kế kỹ thuật, dự toán xây dựng trong trường hợp thiết kế ba bước; thiết kế bản vẽ thi công, dự toán xây dựng trong trường hợp thiết kế hai bước”.

Như vậy, đối với Báo cáo kinh tế - kỹ thuật (thiết kế một bước), Luật Xây dựng năm 2014 không quy định thẩm định thiết kế bản vẽ thi công và dự toán xây dựng.

Các công trình trên địa bàn huyện (UBND huyện là chủ đầu tư) phần lớn là thiết kế một bước (chủ yếu dưới 03 tỷ đồng). Tuy nhiên trong dự toán các công trình (thiết kế 01 bước) lại có chi phí thẩm tra thiết kế và chi phí thẩm tra dự toán. Cho hỏi việc tính chi phí như vậy có đúng không?

Tệp đính kèm: Tải về
Người gửi: Cường Anh Địa chỉ: Na Hang, Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Xây dựng
Ngày gửi: 06/09/2017
Câu hỏi: Chế độ của cử tuyển

Tôi là sinh viên cử tuyển của tỉnh Tuyên Quang, tôi học trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội. Trong quyết định cử tôi đi học từ năm 2004 đến năm 2009 có ghi rõ là sau khi tôi tốt nghiệp ra trường tôi sẽ phải về tỉnh công tác theo sự phân công công tác của Chủ tịch UBND Tỉnh. Tôi muôn hỏi tại sao từ khi tốt nghiệp ra trường đến nay vẫn chưa được phân công công tác?

Tệp đính kèm: Tải về
Người gửi: Ma Thị Chinh Địa chỉ: Xã Yên Thuận - Huyện Hàm Yên - Tỉnh Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Nội vụ
Ngày gửi: 04/08/2017
Lưu ý: Bạn phải nhập đầy đủ, chính xác các thông tin để Ban biên tập thuận lợi trong việc liên lạc, hỗ trợ.
(Các ô có dấu (*) bắt buộc phải nhập dữ liệu)
Mã bảo vệ
Retype the CAPTCHA code from the image
Change the CAPTCHA codeSpeak the CAPTCHA code
 
Hiện nay, do số lượng câu hỏi gửi về BBT Cổng Thông tin điện tử nhiều, vì vậy, BBT chỉ trả lời các câu hỏi có nội dung rõ ràng, ngắn gọn, không sai lỗi chính tả, điền đầy đủ các thông tin và không trùng lặp với các câu hỏi hoặc câu trả lời đã có. Nếu trường hợp nội dung câu hỏi dài thì soạn thảo thành định dạng word và gửi theo file đính kèm. Thời hạn trả lời là 20 ngày (đối với các câu hỏi phải gửi tới các ngành liên quan).

BBT CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH TUYÊN QUANG

Liên kết chuyên mục