Từ khóa:
Câu hỏi: Hỏi về vô ý va vào đuôi xe tải có phải bồi thường không?

Tôi lái xe gắn máy, vô ý va vào đuôi của một chiếc xe tải. Tôi bị thương ở chân (lột da bắp chân). Còn chiếc  xe tải gần như không sao cả.Tôi muốn hỏi là tôi vi phạm luật gì và có phải bồi thường không? Tài xế xe tải có phải chịu trách nhiệm thuốc thang cho tôi không?

Người gửi: Phạm Thị Lan Địa chỉ: Phường Tân Hà, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 08/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 09/07/2019

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận BBT Cổng thông tin điện tử. Nội dung câu hỏi của bạn đã được Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Theo quy định tại Điều 601 Bộ luật dân sự 2015 thì:

"Điều 601. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật.

2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

3. Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây:a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.Khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại."

Như vậy, trong trường hợp này người gây ra vụ tai nạn giao thông phải bồi thường thiệt hại vì người đó đang điều khiển phương tiện giao thông vận tải thuộc trường hợp quy định tại Điều 601 Bộ luật dân sự 2015 nêu trên.

Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường bao gồm:

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại

- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại.

- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

- Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm.

Như vậy, người gây tai nạn có trách nhiệm bồi thường các khoản chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe của người bị thiệt hại. Người gây tại nạn phải chi trả phần chi phí tái khám và chi phí mổ mà không phụ thuộc vào việc có thỏa thuận hay không; chỉ cần người bị thiệt hại nêu rõ từng khoản thiệt hại thực tế đã xảy ra, mức yêu cầu bồi thường và phải có chứng từ hoặc giấy biên nhận hợp lệ về các khoản chi phí hợp lý, về thu nhập của người bị thiệt hại.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 585 Bộ luật dân sự 2015 về nguyên tắc bồi thường thiệt hại thì các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp không thỏa thuận được việc bồi thường thì trong thời hạn 03 năm kể từ ngày tai nạn xảy ra người gây thiệt hại hoặc chủ thể khác có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết (Điều 588 Bộ luật dân sự 2015).

Câu hỏi: Hỏi về việc đã thanh toán nhưng bên bán không giao hàng xử lý thế nào?

Cho em hỏi, Em có đặt hàng ngoài Móng Cái. Em đã chuyển tiền nhưng bên đó không chuyển hàng. Em muốn đòi lại tiền hay muốn biết địa chỉ của chủ tài khoản thì phải làm cách nào. Mong quý cơ quan chỉ giúp. Em cảm ơn!

Người gửi: Nguyễn Hồng Anh Địa chỉ: Xã Trung môn Huyện, Yên Sơn, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 07/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 08/07/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT Cổng Thông tin điện tử, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin có ý kiến giúp bạn tham khảo như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp, bạn đặt mua hàng ở Móng Cái qua mạng, bạn đã chuyển tiền cho bên bán nhưng sau đó bên bán không theo sự thỏa thuận của hai bên đã thỏa thuận từ trước là giao hàng. Giờ bạn muốn đòi lại tiền đã gửi cho bên bán, bạn không biết địa chỉ cụ thể của họ ở đâu. Bạn xác định lại bạn gửi tiền cho họ qua hình thức nào? Nếu qua thẻ ngân hàng hay số điện thoại có thể nhờ công an xác định nhân thân của họ.

Điều 430 Bộ luật dân sự 2015 quy định về hợp đồng mua bán tài sản:

“Điều 430. Hợp đồng mua bán tài sản

Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán.

Hợp đồng mua bán nhà ở, mua bán nhà để sử dụng vào mục đích khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật nhà ở và luật khác có liên quan.”

Điều 351 Bộ luật dân sự 2015 quy định về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ:

“Điều 351. Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ

1. Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.

Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ.

2. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

3. Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền.”

Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về quyền khởi kiện vụ án:

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”.

 

Căn cứ các quy định của luật và thỏa thuận mua bán hàng hóa giữa các bên, trường hợp bên bán đã nhận tiền nhưng không thực hiện nghĩa vụ giao hàng theo đúng hạn được xác định là vi phạm nghĩa vụ. Theo đó, bên bán phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền: tiếp tục thực hiện nghĩa giao hàng hóa hoặc trả tiền và bồi thường thiệt hại (nếu có).

Vậy, theo Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì bạn có quyền gửi đơn tới Tòa án nhân dân quận, huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc nơi đóng trụ sở (bị đơn là tổ chức) để yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ của mình nếu các bên không tự thỏa thuận hoặc bị đơn cố tình trốn tránh.

Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi của mình, căn cứ Điều 6 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì bạn cần cung cấp cho Tòa án nhân dân quận toàn bộ tài liệu, chứng cứ và chủ động chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ (giấy biên nhận bằng tay, bản tự khai,…..cùng toàn bộ các tài liệu khác liên quan).

Ngoài trách nhiệm dân sự như đã phân tích, nếu bên vi phạm hợp đồng có dấu hiệu gian dối nhằm chiếm đoạt toàn bộ số tiền của bạn (không liên lạc được điện thoại, không nhắn tin được và cung cấp những thông tin không đúng sự thật,….) thì bạn có quyền gửi đơn tố giác tội phạm tới Cơ quan có thẩm quyền tại Điều 145 – Bộ luật Tố tụng hình sự 2015

“Điều 145. Trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

1. Mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

2. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm:

a) Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

b) Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm.

3. Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố:

a) Cơ quan điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo thẩm quyền điều tra của mình;

b) Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo thẩm quyền điều tra của mình;

c) Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục.

4. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có trách nhiệm thông báo kết quả giải quyết cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.”

Bộ luật hình sự 2015 có quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Điều 174 như sau:

“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.”

 

Người thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối, chiếm đoạt được số tiền theo quy định tại Điều 174 sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự và phải chịu hình phạt theo Luật định.

Câu hỏi: Hỏi về nhận tiền chạy việc không trả có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Cho e hỏi ạ! Năm 2015 em học ra trường và nhờ người chạy việc cho đi dạy, trên giấy tờ chỉ là giấy vay nợ nhưng đến nay họ không xin đươc việc cho em và vẫn không có ý định trả lại tiền. Hiện tại họ đang trốn. Em muốn tư vấn về việc làm đơn tố cáo ạ. Em xin cảm ơn!

Người gửi: Trần Quỳnh Anh Địa chỉ: Phường Tân Quang, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 06/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 07/07/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin có ý kiến giúp bạn tham khảo như sau:

Thứ nhất, việc bạn đưa tiền cho người chạy việc dưới hình thức giấy vay nợ, theo quy định tại Điều 116 Bộ luật dân sự 2015 thì đây là một giao dịch dân sự:

“Điều 116. Giao dịch dân sự

Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”

Nếu xử lý theo trường hợp là vay nợ, tức là hợp đồng vay tài sản thì theo quy định của pháp luật dân sự, khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản đầy đủ số tiền gốc và lãi ( nếu có thỏa thuận). Nếu bên vay không trả, bên cho vay có quyền khởi kiện ra Tòa án để giải quyết.

Nếu trường hợp xác định đây là giấy nhận tiền chạy việc, chạy việc là hành vi không được pháp luật cho phép. Theo đó, đây là giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội. Do đó, đây được coi là giao dịch dân sự vô hiệu ( Điều 123 Bộ luật dân sự 2015). Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu là các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Tức là, bên nhận tiền chạy việc phải hoàn trả đầy đủ số tiền đã nhận của bạn.

Thứ hai, về việc làm đơn tố cáo

Với hành vi nhận tiền chạy việc, không có ý định trả tiền và bỏ trốn, người này có thể phải chịu trách nhiệm hình sự một trong hai tội: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hoặc Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác (Điều 174, Điều 175 Bộ luật hình sự 2015).

– Trường hợp 1: Người chạy việc ngay từ đầu biết rằng mình có khả năng chạy việc và thực hiện hành vi để chạy việc như làm thủ tục, hồ sơ, lợi dụng các mối quan hệ, đưa tiền chạy việc và không xin được việc  nhưng không trả lại tiền cho gia đình bạn thì cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

– Trường hợp 2: Người này biết rõ là mình không có khả năng chạy việc nhưng vẫn đề nghị gia đình bạn đưa tiền chạy việc thì đó là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Tuy nhiên, nếu người chạy việc cho bạn là người có chức vụ, quyền hạn và bằng chức vụ quyền hạn của mình để lo công việc cho bạn, thì đây có thể coi là hành vi nhận hối lộ.

Căn cứ theo Điều 354 Bộ luật hình sự 2015 về tội nhận hối lộ được quy định như sau:

“Điều 354. Tội nhận hối lộ

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Lợi ích phi vật chất.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lạm dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đến dưới 3.000.000.000 đồng;

đ) Phạm tội 02 lần trở lên;

e) Biết rõ của hối lộ là tài sản của Nhà nước;

g) Đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

b) Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên.

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

6. Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà nhận hối lộ, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này.”

Ngoài ra, bạn là người đưa tiền cho người có chức vụ quyền hạn để người này thực hiện hành vi chạy việc, bạn cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội đưa hối lộ theo quy định tại Điều 364 Bộ luật hình sự 2015. Để lấy lại tiền, bạn có thể làm đơn tố cáo gửi đến cơ quan công an nơi người này đang cư trú. 

Đơn tố cáo bạn cần trình bày đầy đủ nội dung theo quy định tại Khoản 2 Điều 19 Luật tố cáo 2011 bao gồm:

+ Ngày, tháng, năm tố cáo;

+ Họ, tên, địa chỉ của người tố cáo;

+ Nội dung tố cáo

Đơn tố cáo phải do người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ. Trường hợp nhiều người cùng tố cáo bằng đơn thì trong đơn phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của từng người tố cáo, có chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tố cáo; họ, tên người đại diện cho những người tố cáo để phối hợp khi có yêu cầu của người giải quyết tố cáo.

Câu hỏi: Hỏi về mua hàng trả góp không có khả năng thanh toán có bị xử lý hình sự?

Em muốn hỏi là em có giao dịch tại thế giới di động, trả trước 15 triệu rồi sau đó có chút vấn đề về công việc nên thu nhập không có. Em trễ hẹn 3 tháng chưa trả được. Bây giờ họ bảo gửi hồ sơ về Tòa án huyện để giải quyết. Quy vào tội lợi dụng tin nhiệm chiếm đoạt tài sản, bây giờ nếu em nộp tiền tiếp thì có bị sao không ạ?

Người gửi: Đặng Thị Hoa Địa chỉ: Phường Phan Thiết, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 05/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 06/07/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT Cổng Thông tin điện tử, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời như sau:

Theo nội dung bạn trình bày, bạn có hợp đồng vay tín chấp tại cửa hàng Thế giới di động. Giữa bạn và bên cho vay đã có thỏa thuận về nội dung của hợp đồng, các điều khoản liên quan đến hình thức thanh toán, thời hạn trả nợ, lãi suất,… Nhưng cho đến thời điểm hiện tại, bạn đã trễ hẹn thanh toán so với nội dung thỏa thuận trong hợp đồng là 3 tháng.

Căn cứ dựa trên dấu hiệu của tội phạm, đây được xác định là giao dịch dân sự. Nếu bạn không trả được nợ đúng hạn hoặc mất khả năng trả nợ thì bên cho vay có quyền khởi kiện bạn tới tòa án để được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Tòa án sẽ tuyên bản án buộc bạn phải thanh toán khoản nợ đó. Nếu sau khi tòa án xét xử mà bạn vẫn không chấp hành bản án thì bên cho vay có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án cưỡng chế thi hành. Nếu bạn không có tài sản riêng để thi hành thì khi nào bạn có tài sản, thì cơ quan thi hành án sẽ tiến hành kê biên, phong tòa tài sản… để thu hồi số tiền còn nợ theo bản án cho bên cho vay.

Nếu phát hiện có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản và bạn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015:

“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.”

Việc bạn bên cho vay có đồng ý để bạn tiếp tục đóng tiền hay không phụ thuộc vào nội dung thỏa thuận ở hai bên.

Câu hỏi: Hỏi về việc viên chức nghỉ việc được hưởng những chế độ gì ?

Tôi muốn hỏi. Năm 2003 tôi là hợp đồng lao động tại Trung tâm Kỹ thuật và công nghệ địa chính - Sở tài nguyên và môi trường tỉnh. Từ tháng 6 năm 2006 đến nay Tôi là viên chức tại Trung tâm kỹ thuật và công nghệ địa chính - sở tài nguyên và môi trường tỉnh  ( quyết định hưởng lương ngân sách của tôi do Sở ký và ra quyết định. Năm 2006 tôi có tham dự thi và trúng tuyển). Nay do gia đình tôi chuyển nơi ở mới cách quá xa nơi làm việc. Tôi tự nguyện làm đơn xin nghỉ việc vậy tôi có được hưởng trợ cấp thôi việc hay không? Và tôi còn được hưởng những chế độ gì nữa? Xin tư vấn giúp tôi.Tôi xin trân thành cảm ơn !

Người gửi: Lê Minh Châu Địa chỉ: Xã Trung Môn, Huyện Yên Sơn, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 04/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 05/07/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT Cổng Thông tin điện tử, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin tư vấn như sau:

Theo quy định tại Điều 45 luật viên chức 2010 quy định về chế độ thôi việc của viên chức như sau:

“Điều 45. Chế độ thôi việc

1. Khi chấm dứt hợp đồng làm việc, viên chức được hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm hoặc chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về lao động và pháp luật về bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Viên chức không được hưởng trợ cấp thôi việc nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Bị buộc thôi việc;

b) Đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc mà vi phạm quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều 29 của Luật này;

c) Chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định tại khoản 5 Điều 28 của Luật này.

Khoản 4,5,6 Điều 29 và Khoản 5 Điều 28 Luật viên chức 2010 quy định :

Điều 29. Đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc

…4. Viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nhưng phải thông báo bằng văn bản cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập biết trước ít nhất 45 ngày; trường hợp viên chức ốm đau hoặc bị tai nạn đã điều trị 06 tháng liên tục thì phải báo trước ít nhất 03 ngày.

5. Viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trong các trường hợp sau:

a) Không được bố trí theo đúng vị trí việc làm, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm các điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng làm việc;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc không được trả lương đúng thời hạn theo hợp đồng làm việc;

c) Bị ngược đãi; bị cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình thật sự có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng;

đ) Viên chức nữ có thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở chữa bệnh;

e) Viên chức ốm đau hoặc bị tai nạn đã điều trị từ 03 tháng liên tục mà khả năng làm việc chưa hồi phục.

6. Viên chức phải thông báo bằng văn bản về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập biết trước ít nhất 03 ngày đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, đ và e khoản 5 Điều này; ít nhất 30 ngày đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 5 Điều này.”

Điều 28. Thay đổi nội dung, ký kết tiếp, tạm hoãn và chấm dứt hợp đồng làm việc

…5. Khi viên chức được cấp có thẩm quyền bổ nhiệm giữ chức vụ được pháp luật quy định là công chức tại đơn vị sự nghiệp công lập hoặc có quyết định nghỉ hưu thì hợp đồng làm việc đương nhiên chấm dứt.”

Như vậy, trong trường hợp bạn thôi việc theo nguyện được sự chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc đúng quy định pháp luật thì sau khi nghỉ việc bạn đủ điều kiện được hưởng trợ cấp thôi việc. Mức trợ cấp thôi việc được tính trên cơ sở Điều 39 Nghị định 29/2012/NĐ-CP. Cụ thể

Điều 39. Trợ cấp thôi việc :

1. Trợ cấp thôi việc đối với thời gian công tác của viên chức từ ngày 31 tháng 12 năm 2008 trở về trước được tính như sau: 

a) Cứ mỗi năm làm việc được tính bằng 1/2 (một phần hai) tháng lương hiện hưởng, gồm: Mức lương theo chức danh nghề nghiệp, phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có); 

b) Mức trợ cấp thấp nhất bằng 01 (một) tháng lương hiện hưởng; 

c) Trường hợp viên chức được tuyển dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2003, thời gian làm việc được tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian làm việc (cộng dồn) kể từ khi viên chức có quyết định tuyển dụng đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2008. 

d) Trường hợp viên chức được tuyển dụng từ ngày 01 tháng 7 năm 2003 trở về sau, thời gian làm việc được tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian làm việc theo hợp đồng làm việc (cộng dồn) kể từ khi viên chức có quyết định tuyển dụng đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2008. ..’’

Ngoài khoản tiền trợ cấp thôi việc thì với tổng thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội của bạn còn được hưởng các chế độ liên quan tới bảo hiểm xã hội (trợ cấp thất nghiệp, bảo hiểm xã hội một lần hoặc chế độ hưu trí) nếu đáp ứng đủ điều kiện theo luật định. 

**Về trợ cấp thất nghiệp

Căn cứ Điều 49 Luật việc làm 2013 về điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp. Cụ thể:

 “Điều 49. Điều kiện hưởng

Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này;

3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này;

4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

e) Chết.”

Mức hưởng và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp như sau

Điều 50. Mức, thời gian, thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp

1. Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

2. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng.

3. Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày thứ 16, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này.

** Bảo hiểm xã hội: Trường hợp sau khi thôi việc thì ban có thể tiếp tục tham gia đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc (nếu tiếp tục đi làm) hoặc bảo hiểm tự nguyện đến khi đáp ứng đủ điều kiện để hưởng chế độ hưu trí. Trường hợp không có nhu cầu tham gia đóng BHXH tiếp thì sau ít nhất một năm từ thời điểm nghỉ việc và không tham gia đóng bảo hiểm tiếp thì có thể rút bảo hiểm một lần theo Điều 60 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014.

Câu hỏi: Hỏi về đốt than tổ ong gây ảnh hưởng đến người khác có bị xử lý không?

 Xin tư vấn giúp tôi một chuyện liên quan đến người hàng xóm gây ảnh hưởng đến xung quanh như sau: khu phố nhà tôi bình thường rất sạch sẽ văn minh, nhưng thời gian gần đây có một hộ gia đình mới chuyển đến, họ thường xuyên sử dụng bếp than tổ ong và đặt vị trí bếp ở bên ngoài cửa ra vào nhà họ. Ngoài những lúc đun nấu thì họ vẫn ủ bếp than 24/24h, mùi than bốc và lan tỏa gây ảnh hưởng đến những nhà xung quanh khiến họ ko dám mở cửa trên tầng và cửa ra vào của nhà mình. Những người hàng xóm đã gặp và ý kiến với nhà đun bếp than, khi hành động đó không có hiệu quả, những người hàng xóm đã gặp tổ dân phố để can thiệp; tổ dân phố đã đến cho ý kiến nhưng hộ gia đình kia chỉ ậm ừ qua loa rồi vẫn tiếp diễn hành động ủ than và đun nấu của mình; tôi nghĩ những người hàng xóm khác có quyền được hưởng không khí trong lành tại nơi mình sinh sống; có quyền được sống khỏe mạnh. Vì vậy, do muốn tránh xung đột trực tiếp với hộ gia đình sử dụng bếp than, tôi muốn dùng lý lẽ và pháp luật để can thiệp, kính mong quý cơ quan có thể tư vấn giúp tôi về khía cạnh pháp luật để giải quyết vấn đề trên. Rất mong nhận được câu trả lời hồi âm của quý cơ quan. Xin chân thành cảm ơn! 

Người gửi: Phan Thu Trang Địa chỉ: Phường Ỷ La, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 03/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 04/07/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT Cổng Thông tin điện tử, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin có ý kiến giúp bạn tham khảo như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp, thì 1 hộ dân trong khu phố nhà bạn sử dụng bếp than tổ ong gây ảnh hưởng đến đến nhà xung quanh. Mặc dù, đã có sự nhắc nhở của các hộ gia đình xung quanh và tổ dân phố nhưng hộ gia đình này vẫn tiếp tục sử dụng bếp than. Do đó, để giải quyết vấn đề này, bạn có thể căn cứ vào quy định của Luật bảo vệ môi trường 2014 quy định về những hành vi bị cấm trong lĩnh vực môi trường. Cụ thể như sau:

“ Điều 7. Những hành vi bị nghiêm cấm

1. Phá hoại, khai thác trái phép nguồn tài nguyên thiên nhiên.

2. Khai thác nguồn tài nguyên sinh vật bằng phương tiện, công cụ, phương pháp hủy diệt, không đúng thời vụ và sản lượng theo quy định của pháp luật.

3. Khai thác, kinh doanh, tiêu thụ các loài thực vật, động vật hoang dã thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.

4. Vận chuyển, chôn lấp chất độc, chất phóng xạ, chất thải và chất nguy hại khác không đúng quy trình kỹ thuật về bảo vệ môi trường.

5. Thải chất thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường; các chất độc, chất phóng xạ và chất nguy hại khác vào đất, nguồn nước và không khí.

6. Đưa vào nguồn nước hóa chất độc hại, chất thải, vi sinh vật chưa được kiểm định và tác nhân độc hại khác đối với con người và sinh vật.

 

7. Thải khói, bụi, khí có chất hoặc mùi độc hại vào không khí; phát tán bức xạ, phóng xạ, các chất ion hóa vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường.

8. Gây tiếng ồn, độ rung vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường.

…”

Theo quy định trên thì hành vi thải khói, bụi, khí có chất hoặc mùi độc hại vào không khí là hành vi bị nghiêm cấm. Mặc dù chưa có quy định cấm sử dụng than tổ ong trong sinh hoạt. Tuy nhiên, đốt than tổ ong sẽ sản sinh ra nhiều loại khí độc như CO2, CO, lưu huỳnh… khi hít vào dễ có cảm giác mệt mỏi, khó thở, tức ngực, nặng hơn có thể bị hôn mê sâu và dẫn tới tử vong. Do đó, hành vi đốt than tổ ong trong trường hợp thải chất độc hại vào không khí gây ô nhiễm, mức ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn thì sẽ bị xử lý.

Căn cứ để xử lý là việc đun bếp than trực tiếp gây ra sự đau ốm, bệnh tật cho những người xung quanh hoặc làm cho tình trạng bệnh tật của họ ngày càng trầm trọng. Trong trường hợp này, người gây ra ô nhiễm sẽ phải bồi thường cho nạn nhân hoặc bị phạt hành chính, nặng thì có thể sẽ bị xử lý trách nhiệm hình sự. Trường hợp bạn chưa xác định được nội dung trên thì có thể đo hàm lượng độc hại của carbon, các hợp chất khác trong thành phần than tổ ong có trong không khí xem có vượt quá tiêu chuẩn cho phép hay không. Từ những mức độ cụ thể đo được, bạn có thể gửi đơn đến cơ quan chức năng xem xét xử lý trách nhiệm của hộ dân đó.

Câu hỏi: Hỏi về gây tai nạn giao thông chết người phải bồi thường những gì?

Cho tôi hỏi, chú tôi đang điều khiển xe máy trên đường thì có 2 người đi cùng chạy ngược chiều lấn sang phần lề đương chú tôi đang đi và đâm vào xe chú tôi làm chú tôi chết tại chỗ thì được bồi thường như thế nào?

 

Người gửi: Nguyễn Trọng Phương Địa chỉ: Phường Tân Hà, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 02/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 03/07/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp là chú bạn đang điều khiển xe máy thì bị hai người đi ngược chiều lấn sang làn đường chú bạn đang đi, họ đã đâm vào xe và khiến chú bạn thiệt mạng tại chỗ. Trong trường hợp này, hai người gây ra tai nạn cho chú của bạn sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và trách nhiệm hình sự.

Tại điều 604 Bộ luật dân sự 2005 có quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau:

"1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường".

Hai người đâm vào chú bạn đi xe máy, trong trường hợp này là bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra theo quy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự 2005:

"1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định".

Chú bạn đã mất, vì thế nên hai người gây ra tai nạn cho chú của bạn phải bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm hại được xác định cụ thể như sau:

"Điều 610. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.

2. Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định".

Để biết cụ thể hơn về những khoản chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, mai táng, nghĩa vụ cấp dưỡng hay bồi thường về tinh thần như thế nào bạn có thể tham khảo thêm quy định tại mục 2 phần 2 Nghị quyết Số 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Về việc giải quyết bồi thường về dân sự, theo nguyên tắc thì hai người gây tai nạn phải bồi thường kịp thời, đầy đủ, trước tiên sự thỏa thuận của các bên và nếu các bên không tự thỏa thuận được với nhau thì Tòa án sẽ áp mức bồi thường cụ thể để giải quyết. Trong trường hợp, hai người đó không bồi thường về dân sự, bạn có thể làm đơn gửi đến Tòa án.

Ngoài trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự, do hành vi lấn sang làn đường của chú bạn đang đi và khiến chú bạn chết tại chỗ, hai người gây tai nạn còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 202 Bộ luật hình sự về tội vi phạm điều kiển phương tiện giao thông đường bộ như sau:

"1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm".

Trên cơ sở xem xét hồ sơ, căn cứ mức độ của hành vi của hai người vi phạm mà Tòa án sẽ có hình phạt cụ thể đối với họ.

Câu hỏi: Hỏi về bồi thường khi làm hư hỏng hàng hóa lúc vận chuyển

Tôi có thuê một công ty vận chuyển một bức tượng từ Hà nội về Tuyên Quang, nhưng trên đường đi thì có va chạm và một phần bức tượng bị vỡ. Tôi yêu cầu bên công ty đó bồi thường toàn bộ giá trị hàng của tôi nhưng bên đó chỉ bồi thường một phần. Xin hỏi trong trường hợp của tôi thì có được bồi thường toàn bộ không?

Người gửi: Trần Thị Lan Địa chỉ: Phường Hưng Thành, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 01/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 02/07/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT Cổng Thông tin điện tử, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời như sau:

Theo quy định tại Điều 539 Bộ luật dân sự về nghĩa vụ của bên vận chuyển như sau:

“Điều 539. Nghĩa vụ của bên vận chuyển

Bên vận chuyển có các nghĩa vụ sau đây:

1. Bảo đảm vận chuyển tài sản đầy đủ, an toàn đến địa điểm đã định, theo đúng thời hạn;

2. Trả tài sản cho người có quyền nhận;

3. Chịu chi phí liên quan đến việc chuyên chở tài sản, trừ trường hợp có thoả thuận khác;

4. Mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật;

5. Bồi thường thiệt hại cho bên thuê vận chuyển trong trường hợp bên vận chuyển để mất mát, hư hỏng tài sản do lỗi của mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”

Giữa bạn và công ty vận chuyển đã giao kết hợp đồng vận chuyển tài sản. Đó là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên vận chuyển có nghĩa vụ chuyển tài sản đến địa điểm đã định theo thỏa thuận và giao tài sản đó cho người có quyền nhận, còn bên thuê vận chuyển có nghĩa vụ trả cước phí vận chuyển.

Theo quy định trên, bạn cần xác định lỗi của bên vận chuyển đối với việc hư hỏng tài sản mà bạn đã thuê vận chuyển. Từ đó, có căn cứ yêu cầu bên vận chuyển bồi thường thiệt hại cho bạn.

Việc bồi thường thiệt hại phải được thực hiện theo nguyên tắc được quy định tại Điều 605 Bộ luật dân sự:

“Điều 605. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.”

 

Câu hỏi: Hỏi về đi uống nước bị mất xe, chủ quán có phải bồi thường?

Tôi muốn hỏi vấn đề sau mong quý Cơ quan tư vấn trong trường hợp sau: tuần trước tôi có đi uống nước cùng bạn tại 1 quán nước trên địa bàn Tỉnh Tuyên Quang. Người bán hàng chỉ chỗ để xe cho tôi. Tuy nhiên khi ra thì xe của tôi bị mất.Tôi có nói với chủ quán thì chủ quán nói không bồi thường.? Xin cảm ơn !

Người gửi: Nguyễn Cẩm Ly Địa chỉ: Phường Phan Thiết, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 22/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 23/06/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT Cổng Thông tin điện tử, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin có ý kiến giúp bạn tham khảo như sau:

Trong trường hợp này của bạn, giữa bạn và người bán quán có xác lập quan hệ hợp đồng gửi giữ tài sản.

Theo quy định tại Điều 559 BLDS thì:

“Hợp đồng gửi giữ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên nhận giữ tài sản của bên gửi để bảo quản và trả lại chính tài sản đó cho bên gửi khi hết thời hạn hợp đồng, còn bên gửi phải trả tiền công cho bên giữ, trừ trường hợp gửi giữ không phải trả tiền công”.

Như vậy, hợp đồng gửi giữ tài sản được hiểu:

1. Được hình thành giữa hai bên, bên nhận giữ tài sản và bên gửi tài sản;

2. Hợp đồng có thể được giao kết bằng văn bản hoặc giao kết miệng

3. Giữa hai bên có thể thỏa thuận trả tiền công cho bên giữ hoặc không trả tiền công.

Như vậy, về nguyên tắc, khi người bán quán đồng ý trông giữ xe cho là thời điểm phát sinh quan hệ hợp đồng gửi giữ tài sản, trong đó người bán quán phải có trách nhiệm bảo quản, giữ gìn tài sản và phải bồi thường thiệt hại khi làm mất mát, hư hỏng xe của bạn.

Tuy nhiên, việc bạn yêu cầu người bán quán bồi thường cho bạn sẽ gặp nhiều khó khăn vì bạn cần chứng minh bạn đã gửi xe cho người bán nước trong khi giữa hai bên không có bất kỳ giấy tờ gì chứng minh việc trông xe hộ. Như vậy, trong những hợp như của bạn, nếu người bán quán nhận đã chỉ chỗ để xe và trông xe cho bạn thì họ phải bồi thường.

Trên thực tế những trường hợp này xảy ra tương đối nhiều và phần lớn người có tài sản khó yêu cầu người trông hộ bồi thường tài sản. Do vậy, người có tài sản cần rút kinh nghiệm là tài sản của mình thì mình cần phải bảo quản cẩn thận, nếu gửi xe thì cần có giấy tờ rõ ràng để đảm bảo quyền lợi của mình khi xảy ra mất mát, hư hỏng xe.

Câu hỏi: Hỏi về mua hàng qua mạng không giao đúng mẫu sẽ bị xử lý như thế nào? Khách hàng có được quyền trả lại hàng không?

Tôi có mua 1 sản phẩm trên mạng nhưng khi nhận được lại không phải mặt hàng quảng cáo và nhiều người cũng bị lừa như tôi. Kính mong quý cơ quan cho tôi biết làm thế nào để ngăn chặn trang đó lại không nhiều người sẽ bị lừa tiếp? xin cảm ơn!

Người gửi: Hoàng Thị Thúy Địa chỉ: An Khang, Yên Sơn, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 21/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 22/06/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT Cổng Thông tin điện tử, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời như sau:xin trả lời như sau:

Căn cứ Điều 17 Nghị định 99/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 quy định:

“- Khi giao kết hợp đồng từ xa, tổ chức, cá nhân kinh doanh phải cung cấp cho người tiêu dùng những thông tin sau:

+ Tên của tổ chức, cá nhân kinh doanh, số điện thoại liên lạc, địa chỉ, trụ sở, địa chỉ cơ sở chịu trách nhiệm về đề nghị giao kết hợp đồng (nếu có);

+ Chất lượng của hàng hóa, dịch vụ;

+ Chi phí giao hàng (nếu có);

+ Phương thức thanh toán, phương thức giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ;

+ Thời gian có hiệu lực của đề nghị giao kết và mức giá đề nghị giao kết;

+ Chi phí sử dụng phương tiện thông tin liên lạc cho việc giao kết hợp đồng nếu chi phí này chưa được tính vào giá của hàng hóa, dịch vụ;

+ Chi tiết về tính năng, công dụng, cách thức sử dụng của hàng hóa, dịch vụ là đối tượng hợp đồng.

– Trường hợp việc đề nghị giao kết hợp đồng được thực hiện thông qua điện thoại, tổ chức, cá nhân kinh doanh cần phải nói rõ ngay từ đầu về tên, địa chỉ của mình và mục đích của cuộc đàm thoại.

– Trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, trong trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp không đúng, không đầy đủ thông tin quy định tại khoản 1 Điều này thì trong thời hạn mười (10) ngày kể từ ngày giao kết hợp đồng người tiêu dùng có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng đã giao kết và thông báo cho tổ chức, cá nhân kinh doanh. Người tiêu dùng không phải trả bất kỳ chi phí nào liên quan đến việc chấm dứt đó và chỉ phải trả chi phí đối với phần hàng hóa, dịch vụ đã sử dụng.”

Như vậy, khi thực hiện việc giao kết hợp đồng trong trường hợp là mua hàng qua mạng, người tiêu dùng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng đã giao kết trong thời hạn mười ngày, nếu sản phẩm nhận được không đúng như thông tin và doanh nghiệp cung cấp (trừ trường hợp các bên đã có thỏa thuận khác).

Trong trường hợp này, người tiêu dùng không phải trả bất kỳ chi phí nào liên quan đến việc chấm dứt đó và chỉ phải trả chi phí đối với phần hàng hóa. Tuy nhiên, trên thực tế, khi người tiêu dùng yêu cầu trả lại hàng hóa và hoàn lại tiền khi gặp những vấn đề như sản phẩm không đúng như quảng cáo, nguồn gốc không rõ ràng, bị lừa đảo…, thì doanh nghiệp thường trốn tránh trách nhiệm và không giải quyết yêu cầu của người tiêu dùng.

Trong trường hợp này, để ngăn chặn trang web đó không để nhiều người bị lừa thì bạn có thể khiếu nại hoặc phản ánh tới Sở Công Thương hoặc Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng các tỉnh,thành phố. Cùng với đó là bạn cũng như người tiêu dùng  khác cần lưu ý những vấn đề sau đây: 

– Xác minh lại các thông tin quảng cáo trước khi đưa ra quyết định mua sắm qua kênh truyền hình;

– Thận trọng với những sản phẩm sử dụng hàng ngày nhưng giá quá cao (dầu gội, thuốc nhuộm tóc, kem dưỡng da, đồ gia dụng…);

– Luôn đặt câu hỏi với những sản phẩm được quảng cáo “rất tốt”, “ưu việt”, “số 1 thị trường”…;

– Cảnh giác với những sản phẩm không có thương hiệu/thương hiệu không nổi tiếng/rất ít người biết đến;

 

Câu hỏi: Hỏi về phun thuốc diệt cỏ làm ảnh hưởng tới hoa màu của nhà hàng xóm. Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Tôi có thuê 1 ha để trồng mì. Kế bên đám đất tôi thuê là 5 sào đất trồng cây mướp đắng đang trong thời gian cho trái. Vừa rồi tôi có sử dụng thuốc diệt mầm trên đám đất tôi thuê. Khoảng 12 ngày sau thì đám đất 5 sài đất trồng mướp đắng kê bên đấy có dấu hiệu cháy lá, thiệt hại trên khoảng 50 triệu Bây giờ chủ đất bị thiệt hại đấy đòi kiện cáo bên tôi. Nếu bị xử phạt thì như thế nào ? Xin cảm ơn !

Người gửi: Nguyễn Văn Hoàn Địa chỉ: Trung Môn, Yên Sơ, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 20/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 21/06/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT Cổng Thông tin điện tử, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời như sau:

Thứ nhất, cần xác định thuốc diệt mầm mà gia đình bạn đã sử dụng có phải là loại thuốc được phép sử dụng và có tên trong Danh Mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam hay không?

Theo đó, nếu vi phạm các quy định thì bạ có thể bị xử phạt theo quy định tại Điều 26 Nghị định 31/2016/NĐ-CP về vi phạm quy định về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật:

“1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng với nội dung hướng dẫn sử dụng ghi trên nhãn thuốc;

b) Không thu gom, để đúng nơi quy định bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau khi sử dụng.

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không có tên trong Danh Mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam;

b) Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật dưới dạng ống tiêm thủy tinh.

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng nội dung hướng dẫn ghi trên nhãn gây hậu quả nguy hiểm.

4. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong Danh Mục thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng tại Việt Nam.

5. Biện pháp khắc phục hậu quả

a) Buộc tiêu hủy thuốc đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 2, 4 Điều này;

b) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 3 Điều này.

Thứ hai, Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tại Điều 604 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

"Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó."

Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh khi có đủ các điều kiện sau:

– Yếu tố có thiệt hại xảy ra trên thực tế (thiệt hại về vật chất và tinh thần) là nền tảng cơ bản đồng thời là điều kiện bắt buộc của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

– Hành vi vi phạm đó là vi phạm những quy định của pháp luật nói chung, khi đó có thể là hành vi vi phạm những quy định của pháp luật về hình sự, hành chính, kinh tế…

– Bốn điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng gồm: Có thiệt hại xảy ra, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật, có lỗi của người gây thiệt hại và có mối liên hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật.

Bên gây thiệt hại phải bồi thường nhanh chóng, kịp thời và toàn bộ. Các bên không có sự thỏa thuận trước như đối với trường hợp vi phạm hợp đồng. Một số trường hợp bồi thường thiệt hại ngay cả khi không có lỗi, nếu pháp luật có quy định.

Thời điểm xác định trách nhiệm: Phát sinh từ thời điểm xảy ra hành vi gây thiệt hại.

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại được quy định như sau: 

– Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần.

– Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

– Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

Theo như bạn trình bày, trong thời gian ở trường, thì nhà trường có trách nhiệm quản lý con bạn nên khi người trông trẻ không để ý để trẻ uống nước rửa bát là người trông trẻ đã có lỗi và đã gây ra thiệt hại vì vậy nhà trường có trách nhiệm bồi thường.

Theo đó, cần xác định rõ nguyên nhân, lý do xảy ra hiện tượng cháy lá cây của gia đình bên cạnh là do đâu? Nếu chứng minh được là do gia đình bạn sử dụng thuốc diệt mầm thì 2 bên có thể thỏa thuận. Gia đình bạn có thể phải bồi thường số tiền 50 triệu đồng do gây thiệt hại trên.

Câu hỏi: Hỏi về hành vi nhặt được ví tiền nhưng không trả cho chủ sở hữu. Trách nhiệm của người nhặt được vật đánh rơi, bỏ quên.

Tôi có để quên một chiếc ví trên yên xe ngay tại nhà xe công ty nơi tôi làm việc. Tôi đã dán thông báo tìm mấy ngày rồi nhưng không thấy ai trả lại. Tôi nghe nói tại nhà xe có camera, nếu tôi xem lại và biết được người đã nhặt được chiếc ví của tôi. Tôi tìm gặp và xin lại nhưng người này không trả lại và cố tình chối cãi thì tôi có quyền tố cáo để cưỡng chế người này trả lại ví cho tôi được không? Trong ví của tôi không có nhiều tiền chỉ khoảng 400 ngàn thôi nhưng tất cả giấy tờ tùy thân quang trọng đều ở trong đó, nếu làm lại tôi phải mất rất nhiều thời gian và phải về tới quê để làm. Rất mong nhận đc câu trả lời của quý cơ quan!

Người gửi: Đặng Thị Hoa Địa chỉ: Phường Phan Thiết, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 19/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 20/06/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT Cổng Thông tin điện tử, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp, bạn để quên một chiếc ví nhưng không thấy ai trả lại, nhà xe nơi bạn để quên ví có lắp camera, giả sử camera có quay video lại và xác định được người nào đã nhặt được chiếc ví của bạn. Trong trường hợp này xử lý như sau:

Điều 187 Bộ luật Dân sự 2005 quy định quyền chiếm hữu tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu như sau:

"1. Người phát hiện tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phải thông báo hoặc trả lại ngay cho chủ sở hữu; nếu không biết ai là chủ sở hữu thì phải thông báo hoặc giao nộp cho ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc công an cơ sở gần nhất hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật.

Người phát hiện tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm được chiếm hữu tài sản đó từ thời điểm phát hiện đến thời điểm trả lại cho chủ sở hữu hoặc đến thời điểm giao nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Đối với tài sản do người khác tẩu tán nhằm che giấu hành vi vi phạm pháp luật hoặc trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ dân sự thì người phát hiện phải thông báo hoặc giao nộp ngay cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này."

 

Như vậy, giả sử trong trường hợp này có người nhặt được chiếc ví của bạn thì phải có trách nhiệm thông báo hoặc trả lại ví cho bạn; nếu không trả lại cho bạn thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân xã, phương, thị trấn hoặc công an cơ sở gần nhất để thông báo công khai cho bạn biết nhận lại.

Nếu trong trường hợp bạn phát hiện ra người này nhặt được ví của bạn, đã có yêu cầu trả lại nhưng người đó không trả, thì bạn có thể làm đơn tố cáo đến cơ quan công an cấp xã nơi cơ quan bạn có trụ sở. Do giá trị tài sản trong ví của bạn chỉ có 400.000 đồng nên người đó sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo Điểm e Khoản 2 Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP:

“2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

[…]

e) Chiếm giữ trái phép tài sản của người khác”

Người có hành vi vi phạm sẽ bị buộc tịch thu tang vật, vi phạm hành chính. Nếu người có hành vi vi phạm hành chính không chấp hành theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền thì sẽ bị cưỡng thế áp dụng. 

 

 

 

Câu hỏi: Hỏi về việc bị gọi điện thoại làm phiền xử lý thế nào? Xử lý hành vi quấy rối người khác qua điện thoại di động.

Cho em hỏi, em có người bạn vay tiền tín dụng mua sản phẩm tiêu dùng và khai SĐT cá nhân của em nhưng bạn này không hỏi ý em mà tự cho. Khi bên tín dụng (Fe) họ đòi và làm phiền đến em liên tục, có khi họ nói những lời khó nghe, nếu như vậy thì em có quyền kiện họ về tội quấy rối không ? Em cảm ơn ạ!

Người gửi: Phan Thu Trang Địa chỉ: Trung Môn, Yên Sơn, Tuyên Quang Ngày gửi: 18/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 19/06/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT Cổng Thông tin điện tử, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời như sau:

Như bạn trình bày, người bạn vay tín dụng và có sử dụng thông tin số điện thoại của bạn trong phần thông tin liên lạc mà không có sự đồng ý của bạn nhưng tổ chức tín dụng này vẫn gọi điện làm phiền khi người vay chậm trả nợ.

Căn cứ theo quy định của Luật viễn thông 2009, hành vi dùng điện thoại, các phương tiện viễn thông để quấy rối, xúc phạm, xuyên tạc, làm nhục người khác thì tùy theo mức độ nguy hiểm của hành vi mà có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định.

Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 66 Nghị định 174/2013/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện như sau:

“Điều 66. Vi phạm quy định về lưu trữ, cho thuê, truyền đưa, cung cấp, truy nhập, thu thập, xử lý, trao đổi và sử dụng thông tin

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây

g) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác;”

Như vậy, bạn có thể báo (trực tiếp hoặc gián tiếp qua điện thoại, bằng văn bản hoặc thư điện tử) cho doanh nghiệp viễn thông mà mình là khách hàng (thuê bao) hoặc gửi đơn khiếu nại cho Sở Thông tin và truyền thông địa phương để yêu cầu giải quyết.

Câu hỏi: Hỏi về chuyển nhầm tiền vào tài khoản của người khác xử lý thế nào? Xử lý hành vi chiếm giữ trái phép tài sản người khác.

Em có chuyển nhầm tiền vào số tài khoản khác và đã làm rà soát 2 lần rồi nhưng vẫn chưa lấy lại được số tiền đã gửi nhầm. Vậy cho em hỏi là làm thế nào để em lấy lại được số tiền chuyển nhầm ạ

Người gửi: Nguyễn Hồng Nhung Địa chỉ: Phường Phan Thiết, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 17/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 18/06/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT Cổng Thông tin điện tử, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời như sau:

Theo Khoản 4 Điều 36 Thông tư 23/2010/TT-NHNN do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành định về việc quản lý, vận hành và sử dụng hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng thì:

Đối với Lệnh thanh toán sai địa chỉ khách hàng (Lệnh thanh toán chuyển đúng đơn vị nhận lệnh nhưng không có người nhận lệnh hoặc người nhận lệnh mở tài khoản ở Ngân hàng khác), sai tên, số hiệu tài khoản của người nhận Lệnh thanh toán (đúng tên nhưng sai số hiệu tài khoản hoặc ngược lại), ký hiệu chứng từ, ký hiệu loại nghiệp vụ, xử lý như sau:

a) Đối với các Lệnh thanh toán Có (hoặc Nợ) đơn vị nhận lệnh đã nhận nhưng chưa hạch toán thì thực hiện hạch toán vào tài khoản phải trả (phải thu) sau đó lập Lệnh thanh toán chuyển trả lại đơn vị khởi tạo lệnh. Nghiêm cấm đơn vị nhận lệnh chuyển tiền tiếp;

b) Đối với các Lệnh thanh toán đã thực hiện, đơn vị nhận lệnh xử lý tương tự như đã nêu tại Điểm b Khoản 3 Điều này.”

 

Như vậy, khi bạn chuyển nhầm tiền vào tài khoản của người khác bạn cần đến Ngân hàng nơi bạn chuyển tiền để báo về việc chuyển nhầm tiền vào tài khoản, đồng thời yêu cầu tra soát, rà soát đối với sai sót giao dịch chuyển tiền liên ngân hàng.

Ngân hàng khi phát hiện có dấu hiệu nhầm lẫn hay sai sót sẽ thông báo cho chủ tài khoản và thực hiện phong tỏa, tạm khóa tài khoản cho đến khi làm rõ, khắc phục xong những sai sót trên.

Câu hỏi: Hỏi về hành vi tự ý dịch chuyển biển báo giao thông

Cửa hàng của tôi có một biển báo giao thông chắn trước cửa. Tôi có đào lên và di chuyển biển báo giao thông đó sang bên cạnh cách khoảng 2m. Sau đó tôi bị cơ quan chức năng xử phạt hành chính. Cho tôi hỏi, lỗi của tôi thì mức xử phạt là bao nhiêu và quy định tại văn bản nào? Xin cảm ơn!

Người gửi: Lâm Gia Bảo Địa chỉ: Phường Hưng Thành, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 16/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 17/06/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT Cổng Thông tin điện tử, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời như sau:

Tại Khoản 1 Điều 16 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình nêu rõ: “Vi phạm quy định về bảo vệ các công trình công cộng, công trình an ninh, trật tự: Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi tự ý xê dịch các loại biển báo, biển chỉ dẫn, biển hiệu của cơ quan, tổ chức”.

Câu hỏi: Hỏi về sử dụng trái phép logo, thương hiệu thương mại có bản quyền

Một công ty đã và đang in ấn, sử dụng logo, thương hiệu thương mại có bản quyền của công ty tôi để in lên sản phẩm của công ty họ làm ảnh hưởng đến uy tín của công ty tôi. Tôi muốn hỏi, mức xử phạt đối với hành vi sử dụng trái phép logo, thương hiệu thương mại có bản quyền là bao nhiêu và quy định tại văn bản nào? Xin cảm ơn!

Người gửi: Lê Kiều Anh Địa chỉ: Phường Phan Thiết, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 15/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 16/06/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT Cổng Thông tin điện tử, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin có ý kiến giúp bạn tham khảo như sau:

Một công ty đã và đang in ấn, sử dụng logo, thương hiệu thương mại có bản quyền của công ty khác là vi phạm vào Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) – Hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý. Cụ thể Điều 129 quy định:

“1. Các hành vi sau đây được thực hiện mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu thì bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu:
a) Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ trùng với hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó;
b) Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;
c) Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ trùng, tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;
d) Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hoá, dịch vụ bất kỳ, kể cả hàng hoá, dịch vụ không trùng, không tương tự và không liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng.

2. Mọi hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng hoặc tương tự với tên thương mại của người khác đã được sử dụng trước cho cùng loại sản phẩm, dịch vụ hoặc cho sản phẩm, dịch vụ tương tự, gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó đều bị coi là xâm phạm quyền đối với tên thương mại”.

 

Các hành vi vi phạm vào Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ tùy thuộc tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý hành chính theo Điều 11 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp quy định tại Điều 226 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cụ thể như sau: 

- Điều 11 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP quy định xử phạt đối với hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, kiểu dáng công nghiệp:
“1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây vì mục đích kinh doanh trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm đến 3.000.000 đồng:
a) Bán; chào hàng; vận chuyển, kể cả quá cảnh; tàng trữ; trưng bày để bán hàng hóa, dịch vụ xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp;
b) Đặt hàng, giao việc, thuê người khác thực hiện hành vi quy định tại Điểm a Khoản này.
2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ trên 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.
3. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ trên 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
4. Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ trên 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
5. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ trên 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
6. Phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ trên 40.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng.
7. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ trên 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
8. Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ trên 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng.
9. Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 110.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ trên 200.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng.
10. Phạt tiền từ 110.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ trên 300.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng.
11. Phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ trên 400.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng.
12. Phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa vi phạm trên 500.000.000 đồng.
13. Phạt tiền bằng 1,2 lần mức tiền phạt quy định từ Khoản 1 đến Khoản 12 Điều này nhưng không vượt quá 250.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Thiết kế, chế tạo, gia công, lắp ráp, chế biến, đóng gói hàng hóa mang dấu hiệu xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp;
b) In, dán, đính, đúc, dập khuôn hoặc bằng hình thức khác tem, nhãn, vật phẩm khác mang dấu hiệu xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, tên thương mại lên hàng hóa;
c) Nhập khẩu hàng hóa mang dấu hiệu xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, kiểu dáng công nghiệp;
d) Đặt hàng, giao việc, thuê người khác thực hiện hành vi quy định tại các Điểm a, b và c Khoản này.
14. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, kiểu dáng công nghiệp quy định tại Khoản 1 và Khoản 13 Điều này trong trường hợp không có căn cứ xác định giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm.
15. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng dấu hiệu xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại trên biển hiệu, giấy tờ giao dịch kinh doanh, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, bao bì hàng hóa.
16. Hình thức xử phạt bổ sung:
Đình chỉ hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi vi phạm quy định từ Khoản 1 đến Khoản 15 Điều này.
17. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm và tiêu hủy yếu tố vi phạm đối với hành vi vi phạm quy định từ Khoản 1 đến Khoản 15 Điều này;
b) Buộc tiêu hủy tang vật, phương tiện vi phạm nếu không loại bỏ được yếu tố vi phạm; tem, nhãn, bao bì, vật phẩm vi phạm đối với hành vi vi phạm quy định từ Khoản 1 đến Khoản 15 Điều này;
c) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hàng hóa quá cảnh xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với hành vi vi phạm quy định từ Khoản 1 đến Khoản 12 Điều này;
d) Buộc thay đổi tên doanh nghiệp, loại bỏ yếu tố vi phạm trong tên doanh nghiệp đối với hành vi vi phạm quy định từ Khoản 1 đến Khoản 15 Điều này;
đ) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định từ Khoản 1 đến Khoản 15 Điều này”.

- Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), quy định:

“1. Người nào cố ý xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam mà đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ Sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên;
d) Gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý 500.000.000 đồng trở lên;
đ) Hàng hóa vi phạm trị giá 500.000.000 đồng trở lên.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
4. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng.
b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm;
c) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm”.

Câu hỏi: Hỏi về chế độ, chính sách đối với sĩ quan CAND từ trần

Anh trai tôi là sĩ quan nghiệp vụ công tác trong lực lượng Công an nhân dân (CAND). Không may anh tôi vừa mới qua đời do tai nạn giao thông. Cho tôi hỏi, anh trai tôi được hưởng chế độ, chính sách như thế nào? Xin cảm ơn!

Người gửi: Nguyễn Thị Phương Nga Địa chỉ: Phường Tân Quang, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 14/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 15/06/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT Cổng Thông tin điện tử, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin có ý kiến giúp bạn tham khảo như sau:

* Thân nhân của sĩ quan CAND từ trần sẽ được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội như sau:

- Trợ cấp mai táng bằng 10 lần mức lương cơ sở theo quy định tại Điều 66 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.

- Trợ cấp tuất hàng tháng đối với các thân nhân đủ điều kiện hưởng chế độ tuất hàng tháng quy định tại Điều 67 và Điều 68 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 hoặc trợ cấp tuất một lần quy định tại Điều 69 và Điều 70 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.

- Ngoài các khoản trợ cấp nêu trên, thân nhân của sĩ quan CAND từ trần còn được hưởng trợ cấp một lần theo quy định tại Điều 51 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 nếu sĩ quan CAND từ trần được xác định chết do tai nạn lao động. 

* Ngoài các chế độ bảo hiểm xã hội nêu trên, thân nhân của sĩ quan CAND từ trần còn được hưởng trợ cấp theo quy định tại Điểm b và Điểm c Khoản 2 Điều 8 Thông tư số 05/2017/TT-BCA ngày 09/02/2017 của Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn thực hiện một số chế độ, chính sách đối với sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ CAND nghỉ hưu, chuyển ngành, chuyển sang công nhân Công an, thôi phục vụ trong CAND, cụ thể:

- Trợ cấp một lần bằng số năm công tác thực tế (không quy đổi) nhân với 01 tháng tiền lương liền kề trước khi chết.

- Trợ cấp một lần của thời gian tăng thêm do quy đổi quy định tại Điều 9 Thông tư số 05/2017/TT-BCA ngày 09/02/2017 (nếu có). 

Câu hỏi: Hỏi về vay tiền không trả phải làm thế nào để đòi nợ?

Tôi có một vấn đề muốn được tư vấn như sau: Cách đây 6 tháng tôi có đứng ra vay cho một người số tiền 50 triệu đồng, và được vay theo hình thức trả góp với công ty tài chính. Người đó hứa sẽ trả khoản vay hằng tháng, nhưng đã 4 tháng nay người đó đã không chịu trả và trốn tránh tôi. Vì lúc cho vay tôi không có giấy tờ gì. Vậy liệu tôi có thể có căn cứ để khởi kiện không ạ. Rất mong được tư vấn, Trân thành cảm ơn!

Người gửi: Đồng Đại Nghĩa Địa chỉ: Phường Tân Quang, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 12/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 13/06/2019

Căn cứ theo Điều 463 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

“Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”

 

Như vậy, pháp luật không có quy định bắt buộc hợp đồng vay tài sản phải bằng văn bản nhưng văn bản là hình thức rõ ràng nhất để ghi nhận mối quan hệ vay tài sản giữa bạn và người bạn kia trên thực tế để tiến hành khởi kiện. Nếu không có hợp đồng vay bằng văn bản thì bạn phải có những bằng chứng liên quan đến việc bạn vay hộ tiền cho người bạn kia thông qua những bản ghi âm, clip, tin nhắn…

Trường hợp thứ nhất, khi có một trong những bằng chứng ghi nhận về việc bạn vay tiền thay người kia và người kia có hành vi trốn tránh, không chịu trả cho bạn thì người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự 2015:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.”

 

Theo đó nếu có bằng chứng về việc vay tài sản như văn bản (giấy viết tay, thư điện tử…), ghi âm, ghi hình,… và bên kia có hành vi bỏ trốn để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ vay của bạn thì họ có thể bị xem xét về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

Bên cạnh đó, khi có các bằng chứng liên quan về hợp đồng vay bạn còn có thể khởi kiện yêu cầu người đó thanh toán lại tiền vay cũng như khoản tiền lãi khi chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền vay cho bạn. Căn cứ quy định Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 quy định nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau:

“Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.”

Lãi suất trong hợp đồng vay để xác định nghĩa vụ thanh toán trong trường hợp này được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.”

 

Như vậy, nếu vào thời điểm cho vay bạn không có giấy tờ, bằng chứng ghi nhận nợ giữa bên kia với mình, bây giờ bạn vẫn có thể gọi điện, nhắn tin với họ để ghi nhận về sự tồn tại của hợp đồng vay và mức lãi suất đặt ra (nếu có). Đó sẽ là căn cứ để phía bên cơ quan công an hoặc Tòa án nhân dân xem xét về hành vi của người này và có biện pháp xử lý phù hợp với người này.

Ngược lại, nếu bạn không có bất cứ bằng chứng nào ghi nhận về quan hệ vay hộ giữa bạn và người kia phát sinh trên thực tế thì việc khởi kiện của mình là không có căn cứ, rất khó để chứng minh và gần như là không thể đòi lại khoản tiền đã vay hộ.

Câu hỏi: Hỏi về việc Trách nhiệm của bên bán khi giao hàng không đúng chủng loại? Khởi kiện yêu cầu bồi thường khi bên bán giao hàng không đúng chất lượng?

Mình có mua cái điện thoại samsung galaxy note 8 màu xanh hàng xách tay singapore với giá 2.600.000 VNĐ. Nhưng khi giao hàng điện thoại không đúng với những gì mà cửa hàng đã giới thiệu, giờ mình trả thì họ không nhận, nói đã mua miễn trả lại và bắt mình phải chọn cái khác hoặc không thì họ gửi cái cũ. Giờ mình đã chọn gửi cái khác nhưng mình muốn cửa hàng trả lại tiền thì phải làm sao?

Người gửi: Hoàng Lan Anh Địa chỉ: Phường Hưng Thành, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 11/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 12/06/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời như sau:

Căn cứ Điều 430 Bộ luật dân sự 2015 quy định hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán.

Chất lượng của tài sản mua bán như sau:

“Điều 432. Chất lượng của tài sản mua bán

1. Chất lượng của tài sản mua bán do các bên thỏa thuận.

2. Trường hợp tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định thì thỏa thuận của các bên về chất lượng của tài sản không được thấp hơn chất lượng của tài sản được xác định theo tiêu chuẩn đã công bố hoặc theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Khi các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng về chất lượng tài sản mua bán thì chất lượng của tài sản mua bán được xác định theo tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố, quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo tiêu chuẩn ngành nghề.

Trường hợp không có tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố, quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tiêu chuẩn ngành nghề thì chất lượng của tài sản mua bán được xác định theo tiêu chuẩn thông thường hoặc theo tiêu chuẩn riêng phù hợp với mục đích giao kết hợp đồng và theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.”

 

Bạn đặt mua sản phẩm là một chiếc điện thoại di động. Nhưng tuy nhiên, khi nhận hàng thì sản phẩm đó không đúng với những gì cửa hàng đã giới thiệu. Bạn không nói rõ không đúng về chất lượng, tính năng hay hình dáng… Tuy nhiên, khi bạn yêu cầu trả lại sản phẩm thì cửa hàng không đồng ý. Căn cứ Điều 439 Bộ luật dân sự 2015 về trách nhiệm giao tài sản không đúng chủng loại thì trường hợp tài sản được giao không đúng chủng loại thì bên mua có một trong các quyền sau đây:

– Nhận và thanh toán theo giá do các bên thỏa thuận.

– Yêu cầu giao tài sản đúng chủng loại và bồi thường thiệt hại.

– Hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu việc giao không đúng chủng loại làm cho bên mua không đạt được mục đích giao kết hợp đồng.

Do đó, bạn có quyền yêu cầu hủy bỏ hợp đồng và thanh toán tiền, cũng như yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu việc giao không đúng chủng loại làm cho bên mua không đạt được mục đích giao kết hợp đồng. Nếu cửa hàng không đồng ý bạn có thể khởi kiện ra Tòa án nhân dân cấp quận, huyện nơi cửa hàng đặt trụ sở để yêu cầu thanh toán tiền và bồi thường thiệt hại.

Câu hỏi: Hỏi về mức lãi là bao nhiêu thì bị coi là cho vay nặng lãi?

Tôi vay tiền của một công ty tài chính trên mạng, số tiền vay là 10.000.000 ( mười triệu đồng) thì theo hợp đồng tôi phải trả sau 30 ngày là 13.910.000 (mười ba triệu chín trăm mười ngìn đồng). Vậy, công ty đó có phải là vi phạm luật về tội cho vay nặng lãi không? Theo pháp luật, tội đó sẽ bị xử phạt như thế nào? Tôi cần làm gì để pháp luật xử lí vi phạm đó?

Người gửi: Phan Quỳnh Như Địa chỉ: Phường Quang Trung, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 10/06/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 11/06/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời như sau:

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010  Lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng như sau:

“1. Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.

2. Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp hoạt động ngân hàng có diễn biến bất thường, để bảo đảm an toàn của hệ thống tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước có quyền quy định cơ chế xác định phí, lãi suất trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.”

 

Công ty kinh doanh tổ chức tín dụng thì lãi suất cho vay do hai công ty và bạn tự thỏa thuận phù hợp với quy định lãi suất cơ bản của Ngân hàng nhà nước công bố trong từng thời kỳ. Mức lãi suất cho vay được ghi trong hợp đồng tín dụng bao gồm cả lãi suất cho vay trong hạn và lãi suất áp dụng đối với khoản vay quá hạn và trong đó có quy định về lãi suất quá hạn (lãi suất phạt) được áp dụng theo nguyên tắc cao hơn lãi suất trong hạn đã được ký kết trong hợp đồng tín dụng nhưng không được vượt quá 150% lãi suất đã ký kết.

Trong trường hợp của bạn nếu hợp đồng tín dụng có lãi suất cho vay áp dụng lớn hơn 150% lãi suất cơ bản tại thời điểm đó chỉ bị vô hiệu từng phần về điều khoản về lãi suất, còn các điều khoản khác của hợp đồng vẫn có hiệu lực. Nếu có tranh chấp xảy ra thì tòa án áp dụng lãi suất cao nhất nhưng không vượt quá 150% lãi suất cơ bản.

Cho vay tiêu dùng tín chấp là một nghiệp vụ cho vay dựa trên uy tín cá nhân được đánh giá bởi tổ chức tín dụng dành cho một khách hàng mà không cần phải thế chấp tài sản. Chính vì vậy, cho vay tiêu dùng tín chấp có rủi ro cao, nên lãi suất phải cao hơn so với cho vay tiêu dùng có tài sản thế chấp của ngân hàng thương mại.

Trong trường hợp của bạn thì bạn phải xem lại hợp đồng vay tín chấp của bạn thì theo quy định lãi suất vay tiêu dùng thường cao, nếu không trả được nợ thì thường bị tính lãi quá hạn bằng 150% so với lãi suất trong hạn, đôi khi còn bị cộng thêm một số nghĩa vụ tài chính khác, sẽ dẫn đến lãi suất phải trả rất cao, càng khó trả nợ

Tuy nhiên, về nguyên tắc thì có vay, có trả, bạn nợ ngân hàng thì cũng phải tìm phương án trả nợ và có những thỏa thuận hợp lý mà bên cho vay có thể chấp nhận được để tránh mâu thuẫn, tranh chấp căng thẳng có thể xảy ra…

Như vậy, bạn số tiền vay là 10.000.000 ( mười triệu đồng) thì theo hợp đồng tôi phải trả sau 30 ngày là 13.910.000 (mười ba triệu chín trăm mười nghìn đồng )  nếu hợp đồng có ghi hay công ty này kinh doanh tín dụng thì sẽ không vi phạm pháp luật về tội cho vay nặng lãi, để tự bảo vệ mình, trước hết, bạn phải trả đầy đủ lãi suất sẽ phải trả là  trả đúng hạn và quá hạn và các những thỏa thuận với công ty để tránh trường hợp khó trả nợ sau này theo quy định của pháp luật.

 

 

Câu hỏi: Ký kết Hợp đồng lao động với người lao động đã nghỉ hưu

Xin hỏi tôi muốn ký hợp đồng ba năm với lao động đã nghỉ hưu làm công việc chuyên môn kỹ thuật có được không?

Người gửi: Nguyễn Hải Anh Địa chỉ: Đường Quang Trung, Phường Tân Quang, TP Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày gửi: 28/03/2019
Câu hỏi: Các chế độ bảo hiểm của người lao động nữ trong thời gian nghỉ thai sản

Xin hỏi :Tôi nghỉ thai sản đúng quy định hiện hành là 04 tháng, có hồ sơ hợp lệ. Vậy tôi có phải đóng bảo hiểm y tế trong 4 tháng nghỉ này không?

Người gửi: Nguyễn Phương Anh Địa chỉ: Tổ 8, Phường Hưng Thành, TP Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử
Ngày gửi: 26/03/2019
Câu hỏi: Câu hỏi chính sách theo Nghị định 116/2010/NĐ-CP

Theo tôi được biết, ngày 28/4/2017 Chính phủ đã ban hành Quyết Định số 582/QĐ-TTg phê duyệt thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016- 2020, xin hỏi: Viên chức trạm khuyến nông huyện được giao phụ trách xã thuộc khu vực III tại Quyết Định số 582/QĐ-TTg có được hưởng chính sách theo nghị định 116/2010 hay không? Xin cám ơn!

Người gửi: Ma Bá Thành Địa chỉ: Trạm khuyến nông huyện Chiêm Hóa
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Nội vụ
Ngày gửi: 23/03/2018
Câu hỏi: Thủ tục giấy phép xây dựng nhà ở

Mảnh đất nhà tôi đang ở ngày trước thuộc quản lý của Rạp Chiếu bóng, giờ bàn giao lại cho UBND huyện (Sơn Dương) quản lý. Trước gia đình tôi mua lại căn nhà của cơ quan và tham gia đóng thuế đất từ trước năm 1990. Hiện nay nhà ở của gia đình tôi xuống cấp nghiêm trọng có thể sụp đổ bất cứ lúc nào. Tôi muốn sửa chữa lại có được không? nếu được cần làm những thủ tục gì?

Mảnh đất đó có đủ điều kiện để cấp sổ đỏ hay không và nếu thu hồi lại, gia đình tôi có được cắm lại chỗ ở mới không?

Tôi xin chân thành cám ơn!

Người gửi: Đinh Gia Huyên Địa chỉ: Tổ dân phố Quyết Thắng, TT. Sơn Dương, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Tài nguyên và Môi trường
Ngày gửi: 21/02/2018
Câu hỏi: Hỏi về làm đường

Tôi là Nguyễn Thị Quý, công dân tổ 40, phường Minh Xuân, thành phố Tuyên Quang. Tôi xin hỏi 1 việc như sau: Tổ 40 là nơi ra đời chi bộ Mỏ Than (chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh). Tuy nhiên con đường Nguyễn Thị Minh Khai, đặc biệt là đường vào ngõ 38 qua khu dân cư nơi đây đã xuống cấp nghiêm trọng gần chục năm nay. Mặt đường ngay phía trước nhà tôi lởm chởm toàn đá, ổ gà. Ngay phía đầu ngõ rẽ từ Tỉnh ủy xuống còn 1 phần taluy bằng đất gò ụ nhô ra dài hàng chục mét che khuất tầm nhìn, nguy hiểm cho người tham gia giao thông. Hơn nữa hai năm trở lại đây trong khu dân cư có nhiều hộ xây, sửa nhà cửa khiến cát sỏi trôi ra đường rất nhiều, phương tiện tham gia giao thông khi tránh nhau thường bị trượt cát loạng choạng mà ngã. Đã có rất nhiều người ngã xe, va chạm giao thông bị thương phải đưa đi sơ cứu tại bệnh viện. 

Người dân trong tổ đã kiến nghị nhiều lần đến cấp có thẩm quyền, và đã nhiều lần được hứa sẽ sớm làm con đường này. Nhân dân trong tổ tin tưởng lời hứa của cấp có thẩm quyền, nhưng mong mỏi từ năm này qua năm khác mà con đường vẫn ngày càng xuống cấp nghiêm trọng. Hôm nay tôi đưa câu hỏi này đến Cổng Thông tin điện tử tỉnh đề nghị được cấp có thẩm quyền trả lời bao giờ thì con đường qua tổ 40 Minh Xuân, nơi ra đời chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh được khởi công xây dựng đáp ứng niềm mong mỏi của nhân dân.

Tôi mong nhận được phản hồi sớm. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Nguyễn Thị Quý Địa chỉ: Tổ 40, phường Minh Xuân, thành phố Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Giao thông vận tải
Ngày gửi: 17/01/2018
Câu hỏi: Việc làm cho sinh viên cử tuyển

Nhờ Ban Biên Tập chuyển lời hộ em. 

Theo NĐ-CP số 134/2006 Tại chương III Điều 11 có ghi rõ về việc tiếp nhận, phân công công tác cho người được cử đi học theo chế độ cử tuyển sau khi tốt nghiệp. Và trong khoản 1 điều 11 có ghi rõ là "Hàng năm, các cơ sở giáo dục gửi danh sách, bàn giao hồ sơ và bằng tốt nghiệp của người học theo chế độ cử tuyển tốt nghiệp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh". Vậy cho em hỏi,  Em là sinh viên trường ĐHXD Hà Nội tốt nghiệp năm 2015 và sau khi ra trường không thấy Sở Giáo dục bàn giao hồ sơ của em cho UBND tỉnh để phân công công tác theo chế độ cử tuyển. Em xin cảm ơn.

Người gửi: Đặng Bùi Anh Đức Địa chỉ: Yên Sơn tuyên quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Nội vụ
Ngày gửi: 15/10/2017
Câu hỏi: Về việc chợ Phan Thiết tràn lan ra đường phố

Từ khi xây dựng lại chợ Phan Thiết (ngay trung tâm thành phố, gần Tỉnh uỷ), bà con tràn ra đường (đường Hồng Thái) buôn bán, rác thải, nước thải vứt ra đầy đường rất mất vệ sinh; những hộ gia đình nằm trong khu vực này, trong đó có gia đình tôi và các tổ 15,7,16,...rất bất tiện trong việc di chuyển, đôi khi còn bị người bán hàng chửi bới, đánh đập vì đi ô tô vào đây.

Vấn đề này tôi cũng đã thấy chính quyền (UBND phường Phan Thiết) có thời gian xử lý, nhưng xử lí không triệt để (cụ thể: không thu hàng hoá của người sai phạm, cho bán hàng nửa bên trong chợ từ khách sạn Thành Trung vào trong nhưng người bán hàng vẫn lấn ná ra ngoài, chỉ thực hiện được 1 thời gian ngắn xong lại đâu vào đấy...).

Vậy tôi xin hỏi trách nhiệm giải tán khu chợ tạm này thuộc về ai hay cơ quan chức năng nào và bao giờ thì xử lí xong?

Đề nghị cơ quan đó có phương án giải tán khu vực trên, xử lí rác thải, nước thải rõ ràng để tình hình cuộc sống của chúng tôi trở lại bình thường.

Tôi xin chân thành cảm ơn các vị lãnh đạo tỉnh đã lắng nghe!

Người gửi: Trần Văn Khải Địa chỉ: Tổ 16, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Thành phố Tuyên Quang
Ngày gửi: 21/09/2017
Câu hỏi: Lập dự toán xây dựng công trình quy mô nhỏ

Tại điểm a khoản 1 Điều 82 Luật xây dựng năm 2014 quy định thẩm quyền thẩm định thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công và dự toán xây dựng: “Đối với công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước: Cơ quan chuyên môn về xây dựng theo phân cấp chủ trì thẩm định thiết kế kỹ thuật, dự toán xây dựng trong trường hợp thiết kế ba bước; thiết kế bản vẽ thi công, dự toán xây dựng trong trường hợp thiết kế hai bước”.

Như vậy, đối với Báo cáo kinh tế - kỹ thuật (thiết kế một bước), Luật Xây dựng năm 2014 không quy định thẩm định thiết kế bản vẽ thi công và dự toán xây dựng.

Các công trình trên địa bàn huyện (UBND huyện là chủ đầu tư) phần lớn là thiết kế một bước (chủ yếu dưới 03 tỷ đồng). Tuy nhiên trong dự toán các công trình (thiết kế 01 bước) lại có chi phí thẩm tra thiết kế và chi phí thẩm tra dự toán. Cho hỏi việc tính chi phí như vậy có đúng không?

Tệp đính kèm: Tải về
Người gửi: Cường Anh Địa chỉ: Na Hang, Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Xây dựng
Ngày gửi: 06/09/2017
Câu hỏi: Chế độ của cử tuyển

Tôi là sinh viên cử tuyển của tỉnh Tuyên Quang, tôi học trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội. Trong quyết định cử tôi đi học từ năm 2004 đến năm 2009 có ghi rõ là sau khi tôi tốt nghiệp ra trường tôi sẽ phải về tỉnh công tác theo sự phân công công tác của Chủ tịch UBND Tỉnh. Tôi muôn hỏi tại sao từ khi tốt nghiệp ra trường đến nay vẫn chưa được phân công công tác?

Tệp đính kèm: Tải về
Người gửi: Ma Thị Chinh Địa chỉ: Xã Yên Thuận - Huyện Hàm Yên - Tỉnh Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Nội vụ
Ngày gửi: 04/08/2017
Lưu ý: Bạn phải nhập đầy đủ, chính xác các thông tin để Ban biên tập thuận lợi trong việc liên lạc, hỗ trợ.
(Các ô có dấu (*) bắt buộc phải nhập dữ liệu)
Mã bảo vệ
Retype the CAPTCHA code from the image
Change the CAPTCHA codeSpeak the CAPTCHA code
 
Hiện nay, do số lượng câu hỏi gửi về BBT Cổng Thông tin điện tử nhiều, vì vậy, BBT chỉ trả lời các câu hỏi có nội dung rõ ràng, ngắn gọn, không sai lỗi chính tả, điền đầy đủ các thông tin và không trùng lặp với các câu hỏi hoặc câu trả lời đã có. Nếu trường hợp nội dung câu hỏi dài thì soạn thảo thành định dạng word và gửi theo file đính kèm. Thời hạn trả lời là 20 ngày (đối với các câu hỏi phải gửi tới các ngành liên quan).

BBT CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH TUYÊN QUANG

Liên kết chuyên mục