Từ khóa:
Câu hỏi: Hỏi về làm giấy vay tiền viết tay có hợp pháp không?

Cho tôi hỏi! vừa qua tôi có cho một người bạn vay một khoản tiền nhưng giữa hai bên chỉ lập giấy cho vay tiền viết tay có chữ ký của hai bên. Xin cho biết theo các quy định của pháp luật, việc cho vay tiền như vậy có hợp pháp hay không?

Người gửi: Nguyễn Quý Địa chỉ: Phường Ỷ La, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 10/09/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 11/09/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

- Điều 471, Bộ luật Dân sự 2005 quy định: Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Hợp đồng vay tài sản được coi là hợp pháp khi đáp ứng đầy đủ các quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 122, Bộ luật Dân sự 2005 bao gồm: 1. Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự: Cá nhân có thể tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng vay tài sản là người từ đủ 18 tuổi trở lên, không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, không bị mất năng lực hành vi dân sự. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2, Điều 20, Bộ luật Dân sự thì người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cũng có thể tự mình xác lập, thực hiện hợp đồng vay tài sản mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật; 2. Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; 3. Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện; 4. Đáp ứng đúng các điều kiện về hình thức của giao dịch trong các trường hợp pháp luật có quy định.

Về hình thức của hợp đồng vay tài sản, pháp luật dân sự hiện hành không có quy định cụ thể về hình thức của hợp đồng này, do đó, hợp đồng vay tài sản có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

Như vậy, căn cứ các quy định nói trên, theo các thông tin mà ông cung cấp, việc lập giấy cho vay tiền viết tay, có chữ ký của hai bên là không vi phạm quy định của pháp luật về hình thức của hợp đồng vay tài sản. Tuy nhiên, thỏa thuận vay tiền chỉ hợp pháp khi nó đáp ứng đầy đủ các quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo như các quy định đã trích dẫn ở trên.

Câu hỏi: Hỏi về hình phạt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Cho tôi hỏi! Tôi có nộp hồ sơ xin xuất khẩu lao động đi nước ngoài nhưng bị đơn vị môi giới chiếm đoạt số tiền đã đóng. Bây giờ tôi phải làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình ? Cảm ơn!

Người gửi: Hứa Đức Việt Địa chỉ: Phường Tân Hà TP Tuyên Quang Ngày gửi: 09/09/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 10/09/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Căn cứ Khoản 2 Điều 44 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2006 có quy định quyền của người lao động đi làm việc ở nước ngoài như sau:

"2. Hưởng tiền lương, tiền công, thu nhập khác, chế độ khám bệnh, chữa bệnh, bảo hiểm xã hội và các quyền lợi khác quy định trong các hợp đồng và điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 40 của Luật này;"

Điều 20 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2006 quy định tiền môi giới như sau:

"Tiền môi giới là khoản chi phí mà doanh nghiệp dịch vụ phải trả cho bên môi giới để ký kết và thực hiện Hợp đồng cung ứng lao động.

Người lao động có trách nhiệm hoàn trả cho doanh nghiệp dịch vụ một phần hoặc toàn bộ tiền môi giới theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Trong trường hợp, gia đình bạn và công ty đã có ký kết hợp đồng và có thỏa thuận gia đình bạn sẽ nhận được 6 triệu đồng sau khi mẹ bạn đi xuất khẩu lao động. Theo quy định trên thì gia đình bạn được nhận 6 triệu đồng là hợp pháp.

Tuy nhiên, sau khi công ty đã chuyển giao tiền cho người môi giới để trả cho gia đình thì người môi giới chỉ trả lại 2 triệu đồng. Người môi giới có hành vi che dấu số tiền mình đã nhận và bảo gia đình bạn vào công ty lấy (tức phủ nhận việc người môi giới đang cầm 4 triệu đồng), xem đó lại nói xem đó là số tiền hoa hồng cho người môi giới.

Theo quy định trên thì trách nhiệm trả tiền môi giới cho người môi giới là công ty, còn nếu người lao động có trách nhiệm trả tiền môi giới thì cũng chỉ có trách nhiệm hoàn trả cho công ty chứ gia đình bạn không có nghĩa vụ phải trả tiền môi giới cho người môi giới.

Căn cứ Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 quy địnhtội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù mười hai năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Như vậy, với hành vi của người môi giới là đã nhận 6 triệu đồng từ công ty xuất khẩu lao động nhưng lại chỉ đưa cho gia đình bạn 2 triệu đồng, 4 triệu đồng còn lại thì người môi giới có ý định chiếm đoạt, không trả cho gia đình bạn thì có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội lừa đảo chiểm đoạt tài sản theo quy định trên.

Để đảm bảo quyền lợi cho gia đình bạn, gia đình bạn có thể làm đơn tố cáo tới Cơ quan công an cấp quận, huyện nơi người môi giới đang cư trú để yêu cầu giải quyết.

Trân trọng ./.

Câu hỏi: Hỏi về Bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới 2 triệu đồng, làm thế nào để đòi lại .

Cho tôi hỏi! Tôi có đặt mua đôi bông ngọc trai trên trang facebook tên A nhưng hàng kém chất lượng nên tôi gửi đổi thì nơi bán đã nhận lại hàng rồi mà không trả lại hàng khác cho tôi. Giá trị đôi bông khoảng 1 900 000đ. Tôi không biết làm sao để lấy lại tiền hoặc tài sản của mình nhờ quý cơ quan tư vấn, giúp đỡ dùm tôi ? Tôi thành thật biết ơn rất nhiều!

Người gửi: Triệu Thu Trang Địa chỉ: Phường Phan Thiết, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 08/09/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 09/09/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Theo thông tin dữ liệu bạn đưa ra thì bạn mua đôi bông ngọc trai trên fb, đối chiếu theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì giữa bạn với người bán hàng đã xác lập mối quan hệ, hợp đồng mua bán, cụ thể Điều 430 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau:

"Điều 430. Hợp đồng mua bán tài sản

Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán.

Hợp đồng mua bán nhà ở, mua bán nhà để sử dụng vào mục đích khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật nhà ở và luật khác có liên quan."

Cũng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 này thì chất lượng của hàng hóa do các bên thỏa thuận, cụ thể:

"Điều 432. Chất lượng của tài sản mua bán

1. Chất lượng của tài sản mua bán do các bên thỏa thuận.

2. Trường hợp tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định thì thỏa thuận của các bên về chất lượng của tài sản không được thấp hơn chất lượng của tài sản được xác định theo tiêu chuẩn đã công bố hoặc theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Khi các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng về chất lượng tài sản mua bán thì chất lượng của tài sản mua bán được xác định theo tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố, quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo tiêu chuẩn ngành nghề.

Trường hợp không có tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố, quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tiêu chuẩn ngành nghề thì chất lượng của tài sản mua bán được xác định theo tiêu chuẩn thông thường hoặc theo tiêu chuẩn riêng phù hợp với mục đích giao kết hợp đồng và theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng."

Do đó, với chất lượng hàng hóa không như mong đợi của bạn bạn nên xem xét, kiểm tra lại thỏa thuận giữa bạn với bên người bán trước. Nếu sau khi kiểm tra bạn nhận thấy rằng bên người bán không đáp ứng chất lượng hàng hóa theo đúng thỏa thuận thì bạn có thể làm đơn yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết.

Câu hỏi: Hỏi về nhận lại đồ đánh rơi nhưng thiếu đồng hồ giá trị!

Tôi có một vấn đề nhờ luật sư tư vấn giúp tôi. Trên đường đi từ nhà đến nơi công tác, tôi có đem theo 01 cái cặp màu đen, bên trong có tài liệu, 01 chiếc nhẫn vàng trắng có gắn 01 viên kim cương 5.1 kara và 16 viên kim cương nhỏ (trị giá sáu mươi triệu đồng), 01 đồng hồ màu vàng hiệu Longines (trị giá hai triệu đồng) và một số đồ dùng cá nhân.

Khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày, khi đến một cây cầu , tôi phát hiện ra là cặp xách màu đen của tôi đã rơi, tôi liền quay xe lại tìm 03 lần nhưng không thấy. Đến 19 giờ 45 phút cùng ngày, trong lúc tôi đang đi tìm thì nhận được điện thoại của Công an địa phương báo với tôi là có nhặt được 01 chiếc cặp màu đen. Công an có kiểm tra bên trong và biết thông tin của tôi nên báo tôi đến nhận. Khoảng 19 giờ 55 phút cùng ngày, tôi đến công an gặp 3 đồng chí công an và nhận lại chiếc cặp xách, qua xem xét bên ngoài tôi xác định đây là cặp xách của tôi, nhưng khi kiểm tra bên trong thì bị mất 01 nhẫn kim cương và 01 đồng hồ ( như mô tả ở trên).

Tôi có hỏi về người nhặt được cặp xách giao cho công an thì 3 đồng chí Công an nói không rõ về người này. Xin hỏi luật sư, hành vi của 3 đồng chí này có sai không và ai sẽ đem lại công bằng cho tôi.

Người gửi: Lâm Văn Trung Địa chỉ: Phường Ỷ La, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 07/09/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 08/09/2019

Căn cứ theo Điều 165 Bộ luật dân sự 2015:

"Điều 165: Chiếm hữu có căn cứ pháp luật

1. Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong trường hợp sau đây:

d) Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;

..."

"Điều 230. Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên

1. Người phát hiện tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà biết được địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc trả lại tài sản cho người đó; nếu không biết địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại.

Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã đã nhận tài sản phải thông báo cho người đã giao nộp về kết quả xác định chủ sở hữu.

2. Sau 01 năm, kể từ ngày thông báo công khai về tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận thì quyền sở hữu đối với tài sản này được xác định như sau:

a) Trường hợp tài sản bị đánh rơi, bỏ quên có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì người nhặt được được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đó theo quy định của Bộ luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; trường hợp tài sản có giá trị lớn hơn mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì sau khi trừ chi phí bảo quản, người nhặt được được hưởng giá trị bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước;

b) Trường hợp tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên là tài sản thuộc di tích lịch sử - văn hóa theo quy định của Luật di sản văn hóa thì tài sản đó thuộc về Nhà nước; người nhặt được tài sản được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật."

Căn cứ theo Điều 176 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017

 

"Điều 176. Tội chiếm giữ trái phép tài sản

1. Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng101 hoặc dưới 10.000.000 đồng nhưng tài sản là102 di vật, cổ vật103 bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội chiếm giữ tài sản trị giá 200.000.000 đồng trở lên hoặc bảo vật quốc gia, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm."

Theo như trên, người nhặt được tài sản đánh rơi phải thông báo hoặc giao nộp cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết ( Điều 230 Bộ luật dân sự 2015). Cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành xác minh thông tin và trả lại tài sản cho người bị đánh rơi. Bạn được trả lại tài sản nhưng bị thiếu, vậy bạn cần thông báo tới cơ quan điều tra để tiến hành khởi tố vì có dấu hiệu phạm tội. Trường hợp này chưa có căn cứ nào xác định việc thiếu tài sản là do trách nhiệm của cán bộ công an hay do người nhặt được tài sản của bạn, phụ thuộc vào kết quả điều tra của cơ quan có thẩm quyền.

Câu hỏi: Hỏi về sưu tầm và bán đao kiếm, giáo , mác, lưỡi, lê có phạm tội?

Cho tôi hỏi! Hiện tại tôi có thắc mắc về việc treo vũ khí trong nhà, vốn dĩ tôi có sở thích sưu tầm kiếm, đao, thương và cung nỏ để treo trong nhà, những đồ của tôi đều là lưỡi cùn, không sắc, không có độ sát thương. Vậy xin hỏi như thế có được coi là tàng trữ vũ khí hay không? Vậy xin hỏi như thế có được coi là tàng trữ vũ khí hay không, vì mỗi loại tôi có 1 món nên trong nhà treo khá nhiều, và bạn bè tôi thấy thích muốn mua lại thì tôi có bị tội buôn bán trái phép hay không ? Xin cảm ơn!

Người gửi: Lê Trung Địa chỉ: Phường Tân Quang, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 06/09/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 07/09/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Khoản 4 Điều 3 pháp lệnh 16/2011/UBTVQH12 quy định: "Vũ khí thô sơ gồm các loại dao găm, kiếm, giáo, mác, lưỡi lê, đao, mã tấu, quả đấm, quả chùy, cung, nỏ."

Bạn đang sưu tầm và trưng bày vũ khí thô sơ.

Theo Điều 14 Nghị định 25/2012/NĐ-CP quy định: "Cá nhân chỉ được sở hữu vũ khí thô sơ là hiện vật để trưng bày, triển lãm, đồ gia bảo hoặc được gia truyền theo phong tục, tập quán của đồng bào các dân tộc." Như vậy bạn có thể được sở hữu vũ khí thô sơ với mục đích để trưng bày, triển lãm, đồ gia bảo hoặc gia truyền."

Do bạn sử dụng vũ khí nhằm mục đích trưng bày và số vũ khí đó không có độ sát thương cao nên bạn sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Hiện nay pháp luật nghiêm cấm các hành vi mua bán vũ khí trái phép, chỉ có những đối tượng cụ thể mới có thể được mua bán vũ khí và phải được cấp phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nếu bạn tiến hành mua bán vũ khí tại các chợ tự phát trái phép thì bạn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính. Bạn cũng không thể tùy tiện bán vũ khí cho người khác, đây là hành vi vi phạm pháp luật. Điều 15 Nghị định quy định: Việc trang bị vũ khí thô sơ phải đúng đối tượng quy định tại Điều 23 Pháp lệnh và Điều 13 Nghị định này. Bộ Công an căn cứ chức năng, nhiệm vụ, nhu cầu của từng đối tượng (trừ các đơn vị Quân đội, Dân quân tự vệ) để cấp Giấy phép mua theo đúng chủng loại. Theo đó, những đối tượng được mua bán vũ khí bao gồm:

"1. Các đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Dân quân tự vệ.

2. Kiểm lâm, lực lượng chuyên trách chống buôn lậu của Hải quan, đơn vị Hải quan cửa khẩu, An ninh hàng không.

3. Đội kiểm tra của lực lượng quản lý thị trường; ban, đội bảo vệ chuyên trách của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ; cơ quan thi hành án dân sự.

4. Ban bảo vệ dân phố hoặc tổ chức quần chúng bảo vệ an ninh, trật tự xã, phường, thị trấn.

5. Thanh tra chuyên ngành thủy sản, lực lượng kiểm ngư.

6. Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội.

7. Câu lạc bộ, trường, trung tâm đào tạo, huấn luyện thể thao.

8. Trung tâm giáo dục quốc phòng - an ninh.

9. Các bảo tàng, hãng phim, đơn vị biểu diễn nghệ thuật."

Nếu bạn đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi mua bán trái phép vũ khí thô sơ mà lại tái phạm thì bạn sẽ bị xử lí hình sự theo Điều 233 Bộ luật Hình sự 2003.

Tại khoản 5, khoản 6 Điều 10 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội thì:

"5. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Sản xuất, sửa chữa các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép;
b) Sản xuất, sửa chữa các loại đồ chơi đã bị cấm;
c) Mua, bán, vận chuyển, tàng trữ vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép;
d) Mua, bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép vũ khí thể thao;
đ) Vận chuyển vũ khí, các chi tiết vũ khí quân dụng, phụ kiện nổ, công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép hoặc có giấy phép nhưng không thực hiện đúng quy định trong giấy phép hoặc không có các loại giấy tờ khác theo quy định của pháp luật;
e) Bán vật liệu nổ công nghiệp, Nitrat Amon hàm lượng cao (từ 98,5% trở lên) cho các đơn vị chưa được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện vềan ninh, trật tự và giấy phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp hoặc Nitrat Amon hàm lượng cao (từ 98,5% trở lên) hoặc văn bản chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
6. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Sản xuất, chế tạo, sửa chữa vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao, súng săn trái phép;
b) Mang vào hoặc mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam trái phép vũ khí, súng săn, công cụ hỗ trợ, các loại pháo, đồ chơi nguy hiểm."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của Bạn. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do bạn cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến bạn chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi !

Câu hỏi: Hỏi về cho con nuôi có đòi lại được không?

Xin hỏi ! Nhà tôi quá nghèo, nhưng không may tôi sinh con thứ 4 nên không có khả năng nuôi được nên tôi muốn cho làm con nuôi. Sau khi hoàn thiện xong thủ tục thì tôi thấy hối hận và muốn không cho con nuôi nữa. Vậy tôi có lấy lại được con không?

Người gửi: Nguyễn Xuân Huy Địa chỉ: Phường Ỷ La TP Tuyên Quang Ngày gửi: 05/09/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 06/09/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Theo quy định tại Luật nuôi con nuôi 2010 thì:

“Điều 24. Hệ quả của việc nuôi con nuôi

1. Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thay đổi họ, tên của con nuôi.

Việc thay đổi họ, tên của con nuôi từ đủ 09 tuổi trở lên phải được sự đồng ý của người đó.

3. Dân tộc của con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi.

4. Trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thỏa thuận khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi”.

 

Như vậy, bạn đã hoàn thiện thủ tục nuôi con nuôi trong trường hợp này thì kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình. Tóm lại, bạn đã cho con làm con nuôi thì bạn sẽ không còn quyền và nghĩa vụ và đòi lại con nữa. Trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác với nhau.

Câu hỏi: Hỏi về ở tù có phải trả nợ tiền vay cho ngân hàng?

Cho tôi hỏi: Nếu ở tù có phải trả nợ tiền vay cho ngân hàng hay không? Tôi xin cảm ơn!

Người gửi: Nguyễn Lan Địa chỉ: Phường Minh Xuân, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 04/09/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 05/09/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Căn cứ Điều 474 Bộ luật dân sự 2005: Nghĩa vụ trả nợ của bên vay:

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Theo quy định tại Điều 474 Bộ luật dân sự 2005 bên vay phải có nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn. Nếu trong quá trình trả nợ bạn phải thi hành án phạt tù thì Tòa án khoanh vùng khoản nợ lại, sau khi chấp hành xong hình phạt tù vẫn phải trả khoản nợ này.

 

Câu hỏi: Hỏi về đất thuê thì có được thế chấp không?

Xin chào a/c! Tôi có một câu hỏi như sau: Tôi có thuê một mảnh đất của Nhà nước trong thời hạn 30 năm, trả tiền hàng năm, được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tôi xin hỏi là Tôi có thể thế chấp hay không? Nếu được thì căn cứ vào Văn bản nào và thủ tục ra sao? Mong Quý cơ quann tư vấn giúp tôi. Tôi  xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Lê Anh Địa chỉ: Phường Ỷ LA, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 03/09/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 04/09/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Khoản 2 Điều 179 Luật Đất đai năm 2013 quy định: Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

– Quyền và nghĩa vụ chung quy định tại Điều 166 và Điều 170 của Luật này;

– Bán tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê; người mua tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định;

– Để thừa kế, tặng cho tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê; người nhận thừa kế, người được tặng cho tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định;

– Cho thuê tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê theo quy định của pháp luật về dân sự;

– Thế chấp bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế khác hoặc cá nhân theo quy định của pháp luật;

– Góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê trong thời hạn thuê đất với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài để hợp tác sản xuất, kinh doanh; người nhận góp vốn bằng tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định.

Theo quy định nêu trên, khi được Nhà nước cho thuê đất trả tiền hàng năm, bạn chỉ được quyền thế chấp bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê và không được quyền thế chấp quyền sử dụng đất thuê đó.

Câu hỏi: Hỏi về có được thế chấp sổ hộ khẩu để vay ngân hàng không?

Chào a/c ! Tôi cho người thân nhập khẩu vào sổ hộ khẩu sau đó người đó người đó tách sang 1 sổ mới. Vậy cho tôi hỏi cái sổ mà người thân tôi đã tách từ gia đình tôi có được đem thế chấp vay ngân hàng hay không?Xin cảm ơn !

Người gửi: Nguyễn Thu Trang Địa chỉ: Phường Tân Quang, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 02/09/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 03/09/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Luật cư trú 2006 quy định về sổ hộ khẩu như sau:

“Điều 24. Sổ hộ khẩu

1. Sổ hộ khẩu được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký thường trú và có giá trị xác định nơi thường trú của công dân.

2. Sổ hộ khẩu bị hư hỏng thì được đổi, bị mất thì được cấp lại.

3. Bộ Công an phát hành mẫu sổ hộ khẩu và hướng dẫn việc cấp, cấp lại, đổi, sử dụng, quản lý sổ hộ khẩu thống nhất trong toàn quốc.”

Theo quy định của pháp luật thì sổ hộ khẩu được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký thường trú, là giấy tờ có giá trị pháp lý xác định nơi thường trú của công dân.”

Trường hợp một người đã nhập vào sổ hộ khẩu của người thân, khi có nhu cầu thì thực hiện việc tách khẩu phải được sự đồng ý của chủ hộ khẩu bằng văn bản; sau khi tách khẩu và được cấp sổ hộ khẩu mới thì sổ hộ khẩu này sẽ có giá trị xác định nơi cư trú của người đó, việc người đó sử dụng sổ hộ khẩu vào các mục đích khác nhau không liên quan đến gia đình bạn.

Điều 10 Thông tư 35/2014/TT-BCA quy định như sau:

“Điều 10. Cấp sổ hộ khẩu

[…]

7. Người trong hộ gia đình có trách nhiệm bảo quản, sử dụng sổ hộ khẩu theo đúng quy định. Phải xuất trình sổ hộ khẩu khi cán bộ Công an có thẩm quyền kiểm tra. Nghiêm cấm sửa chữa, tẩy xóa, thế chấp, cho mượn, cho thuê hoặc sử dụng sổ hộ khẩu trái pháp luật.

8. Người đứng tên chủ hộ có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho những người cùng có tên trong sổ hộ khẩu được sử dụng sổ để giải quyết các công việc theo quy định của pháp luật. Trường hợp cố tình gây khó khăn, không cho những người cùng có tên trong sổ hộ khẩu được sử dụng sổ để giải quyết các công việc theo quy định của pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật.”

Theo quy định trên, thì người trong hộ gia đình có trách nhiệm bảo quản, sử dụng sổ hộ khẩu theo quy định. Nghiêm cấm hành vi thế chấp sổ hộ khẩu. Vì vậy, việc người kia sử dụng sổ hộ khẩu đem đi thế chấp vay tiền là vi phạm pháp luật.

Người có hành vi vi phạm sẽ bị xử lý theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP như sau:

Điều 8. Vi phạm quy định về đăng ký và quản lý cư trú

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Tẩy, xóa, sửa chữa hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú;

b) Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật về cư trú;

c) Thuê, cho thuê sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật;

d) Sử dụng sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật;[…]”

 

Câu hỏi: Hỏi về khởi kiện đòi lại đất chung của xóm

Tôi có câu hỏi sau nhờ tư vấn giúp tôi. Gia đình tôi có một mảnh đất nhỏ trồng cây hồng xiêm ngay trước nhà. Mảnh đất này gia đình tôi đã sử dụng ổn định liên tục được khoảng hơn 30 năm để trồng rau. Cách đây 5 năm, gia đình tôi đã xây 1 nhà tôn trên mảnh đất ấy cho người khác thuê để gửi hàng. Không có bất kì sự tranh chấp nào từ khi gia đình tôi bắt đầu sử dụng mảnh đất này cho đến 1 tuần trước, vài người trong xóm tôi phát đơn kiện đòi lại đất cho xóm. Tôi muốn hỏi liệu gia đình tôi có mất mảnh đất này không?

Mong Quý cơ quan tư vấn giúp tôi . Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Lê Ngân Anh Địa chỉ: Huyện Yên Sơn, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 01/09/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 02/09/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Theo những thông tin mà bạn trình bày thì đất của nhà bạn ở ổn định lâu dài trên 30 năm, nhà bạn cũng đã xây nhà cho thuê ổn định 5 năm không có bất kỳ tranh chấp nào. Nếu trong trường hợp người hàng xóm kiện đòi lại đất cho xóm thì người khởi kiện bạn sẽ phải có nghĩa vụ chứng minh rằng diện tích đất trước cửa nhà mà bạn trồng cây cũng như xây nhà cho thuê là đất công hoặc là ngõ đi chung, không nằm trong diện tích mà đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhà bạn.

Đối với trường hợp này, gia đình bạn cần phải đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp để xác định lại chính xác diện tích mà được nhà nước công nhận với diện tích xây dựng trên thực tế. Nếu diện tích xây dựng trên thực tế lớn hơn diện tích mà được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bạn phải trả lại phần diện tích xây lấn chiếm đó. Nếu diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên thực tế và trong giấy chứng nhận giống nhau thì bạn không phải trả lại diện tích đã xây.

 

Câu hỏi: Hỏi về xử phạt khi vi phạm quy định về đăng ký cư trú.

Cho cháu hỏi ! Năm nay cháu 15 tuổi, cháu chưa được nhập vào hộ khẩu. Cho cháu hỏi cháu có bị phạt hành chính không? Cháu cảm ơn !

Người gửi: Nguyễn Thị Lành Địa chỉ: Phường Ỷ La, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 19/08/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 20/08/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau

Vì trong câu hỏi bạn không nêu rõ nguyên nhân vì sao bạn lại không được nhập vào sổ hộ khẩu, do đó chúng tôi xin được dẫn chiếu một số quy định pháp luật hiện hành liên quan đến vấn đề này để bạn tham khảo:

Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày trẻ được đăng ký khai sinh, cha/mẹ/đại diện hộ gia đình, người nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký thường trú cho trẻ. Trẻ được nhập khẩu theo bố hoặc mẹ. Việc nhập khẩu cho trẻ là hoàn toàn miễn phí. Do đó, ngay từ khi mới sinh ra, cha/mẹ/người đại diện hộ gia đình,người nuôi dưỡng phải làm thủ tục đăng ký thường trú và nhập hộ khẩu cho bạn. Nếu không thực hiện, sẽ bị xử phạt theo quy định pháp luật tại thời điểm vi phạm đó.

Quy định đối với đăng ký thường trú cho người chưa thành niên:

Điều 13 Luật Cư trú quy định:

“Nơi cư trú của người chưa thành niên 

1. Nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha, mẹ; nếu cha, mẹ có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha hoặc mẹ mà người chưa thành niên thường xuyên chung sống. 

2. Người chưa thành niên có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cha, mẹ nếu được cha, mẹ đồng ý hoặc pháp luật có quy định.”

 

Điều 11 Nghị định 73/2010/NĐ-CP quy định xử phạt hành vi vi phạm quy định về đăng ký và quản lý cư trú:

“1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Không thực hiện đúng quy định về đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú;

b) Không thực hiện đúng quy định về điều chỉnh, bổ sung hoặc những thay đổi khác trong sổ hộ khẩu, sổ tạm trú;

c) Không thực hiện đúng những quy định về khai báo tạm vắng;

d) Không chấp hành việc kiểm tra hộ khẩu, kiểm tra tạm trú, kiểm tra lưu trú hoặc không xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu kiểm tra.”

Điều 8 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định về việc xử phạt vi phạm quy định về đăng ký và quản lý cư trú

“1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Cá nhân, chủ hộ gia đình không thực hiện đúng quy định về đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú hoặc điều chỉnh những thay đổi trong sổ hộ khẩu, sổ tạm trú;

…”

Câu hỏi: Hỏi về tội trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự.

Cho tôi hỏi:

1. Quy trình để truy tố nam công dân trong tuổi sẵn sàng nhập ngũ mà không thực hiện nghĩa vụ quân sự và trốn tránh nhiều năm?

2. Nếu công dân không nhận giấy triệu tập sơ tuyển sức khỏe tại trạm y tế xã thì sẽ bị xử lý như thế nào? Nếu công dân nhận giấy triệu tập nhưng không đến khám sơ tuyển tại trạm y tế xã thì xử lý như thế nào? Liệu có cho công dân đó tiếp tục khám tuyến huyện được không? Nếu Ban chỉ huy quân sự xã lập biên bản xử lý công dân vắng mặt không đến khám sơ tuyển mà công dân vi phạm không ký vào biên bản thì xử lý như thế nào?

Trân trọng cảm ơn!

Người gửi: Lâm Văn Thành Địa chỉ: Phường Tân Hà, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 18/08/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 19/08/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Việc phạm tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự theo khoản 1 Điều 259 Bộ luật hình sự 1999 là tội phạm ít nghiêm trọng:

“Điều 259. Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự

1. Người nào không chấp hành đúng quy định của pháp luật  về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.”

Quy trình truy tố bị can được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự 2003. Cụ thể, một số Điều trong Bộ luật quy định về truy tố như:

“Điều 163. Đề nghị truy tố

1. Khi có đầy đủ chứng cứ để xác định có tội phạm và bị can thì Cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố. Bản kết luận điều tra trình bày diễn biến hành vi phạm tội, nêu rõ các chứng cứ chứng minh tội phạm, những ý kiến đề xuất giải quyết vụ án, có nêu rõ lý do và căn cứ đề nghị truy tố.

2. Kèm theo bản kết luận điều tra có bản kê về thời hạn điều tra, biện pháp ngăn chặn đã được áp dụng có ghi rõ thời gian tạm giữ, tạm giam, vật chứng, việc kiện dân sự, biện pháp để bảo đảm việc phạt tiền, bồi thường và tịch thu tài sản, nếu có.”

“Điều 166. Thời hạn quyết định truy tố

1. Trong thời hạn hai mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, ba mươi ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra một trong những quyết định sau đây:

a) Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng;

b) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;

c) Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.

Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn, nhưng không quá mười ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; không quá mười lăm ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng; không quá ba mươi ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra một trong những quyết định nêu trên, Viện kiểm sát phải thông báo cho bị can, người bào chữa biết; giao bản cáo trạng, quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án cho bị can. Người bào chữa được đọc bản cáo trạng, ghi chép, sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa theo quy định của pháp luật và đề xuất yêu cầu.

2. Sau khi nhận hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát có quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can. Thời hạn tạm giam không được quá thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Trong trường hợp truy tố thì trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra quyết định truy tố bằng bản cáo trạng, Viện kiểm sát phải gửi hồ sơ và bản cáo trạng đến Tòa án.

4. Trong trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền truy tố của mình, Viện kiểm sát ra ngay quyết định chuyển vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.”

Hành vi không nhận lệnh khám sức khỏe hoặc nhận nhưng không đến khám mà không có lý do chính đáng đều là hành vi trốn tránh nghĩa vụ quân sự. Cụ thể, mức xử phạt với hành vi này quy định tại Khoản 1 Điều 6 Nghị định 120/2013/NĐ-CP:

“Điều 6. Vi phạm quy định về kiểm tra, khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự

1. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với hành vi không có mặt đúng thời gian hoặc địa điểm kiểm tra, khám sức khỏe ghi trong giấy gọi kiểm tra, khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự mà không có lý do chính đáng.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

a) Người khám sức khỏe gian dối làm sai lệch kết quả phân loại sức khỏe của mình nhằm trốn tránh nghĩa vụ quân sự;

b) Đưa tiền hoặc các lợi ích vật chất khác cho cán bộ, nhân viên y tế để làm sai lệch kết quả phân loại sức khỏe của người khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự;

c) Cán bộ, nhân viên y tế cố ý làm sai lệch các yếu tố về sức khỏe của người khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc thực hiện kiểm tra hoặc khám sức khỏe theo kế hoạch của Hội đồng nghĩa vụ quân sự đối với hành vi quy định tại Khoản 1 Điều này;

(…)”

Theo đó, việc khám sức khỏe theo tuyến nào phụ thuộc vào kế hoạch của Hội đồng nghĩa vụ quân sự. Việc không ký vào biên bản xử lý vi phạm của công dân không làm mất tính hợp pháp của biên bản đó nếu có chữ ký của đại diện chính quyền cơ sở hoặc của hai người chứng kiến, căn cứ khoản 2 Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012:

“Điều 58. Lập biên bản vi phạm hành chính

(…)

2. (…)

Trường hợp người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm không có mặt tại nơi vi phạm hoặc cố tình trốn tránh hoặc vì lý do khách quan mà không ký vào biên bản thì biên bản phải có chữ ký của đại diện chính quyền cơ sở nơi xảy ra vi phạm hoặc của hai người chứng kiến.

3. Biên bản vi phạm hành chính phải được lập thành ít nhất 02 bản, phải được người lập biên bản và người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm ký; trường hợp người vi phạm không ký được thì điểm chỉ; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại thì họ cùng phải ký vào biên bản; trường hợp biên bản gồm nhiều tờ, thì những người được quy định tại khoản này phải ký vào từng tờ biên bản. Nếu người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm, người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại từ chối ký thì người lập biên bản phải ghi rõ lý do vào biên bản.

Biên bản vi phạm hành chính lập xong phải giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính 01 bản; trường hợp vi phạm hành chính không thuộc thẩm quyền hoặc vượt quá thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì biên bản phải được chuyển ngay đến người có thẩm quyền xử phạt để tiến hành xử phạt.

Trường hợp người chưa thành niên vi phạm hành chính thì biên bản còn được gửi cho cha mẹ hoặc người giám hộ của người đó.”

Ngoài ra, nếu công dân bị xử phạt không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt thì sẽ bị cưỡng chế thi hành, căn cứ Điều 86 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012:

“Điều 86. Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

1. Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt được áp dụng trong trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt theo quy định tại Điều 73 của Luật này.

2. Các biện pháp cưỡng chế bao gồm:

a) Khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản của cá nhân, tổ chức vi phạm;

b) Kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá;

c) Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính do cá nhân, tổ chức khác đang giữ trong trường hợp cá nhân, tổ chức sau khi vi phạm cố tình tẩu tán tài sản.

d) Buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật này.

3. Chính phủ quy định cụ thể về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.”

 

Câu hỏi: Hỏi về 16 tuổi có được mua xe máy và đứng tên không?

Cho em hỏi em 16 tuổi có được mua xe máy và đứng tên không? Em cảm ơn!

Người gửi: Hà Thị Trang Địa chỉ: Phường Minh Xuân, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 16/08/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 17/08/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Thông tư 15/2014/TT-BCA quy định về vấn đề đăng ký xe như sau:

Hồ sơ đăng ký xe gồm:

1. Giấy khai đăng ký xe.

2. Giấy tờ của chủ xe.

3. Giấy tờ của xe.

Để xác định được đối tượng có thể mua xe máy cần xác định các loại giấy tờ của chủ xe. Điều 9 Thông tư 15/2014/TT-BCA quy định cụ thể về các loại giấy tờ của chủ xe như sau:

1. Chủ xe là người Việt Nam, xuất trình một trong những giấy tờ sau:

+ Chứng minh nhân dân. Trường hợp chưa được cấp Chứng minh nhân dân hoặc nơi đăng ký thường trú ghi trong Chứng minh nhân dân không phù hợp với nơi đăng ký thường trú ghi trong giấy khai đăng ký xe thì xuất trình Sổ hộ khẩu.

+ Giấy giới thiệu của thủ trưởng cơ quan, đơn vị công tác, kèm theo Giấy chứng minh Công an nhân dân; Giấy chứng minh Quân đội nhân dân (theo quy định của Bộ Quốc phòng).

Trường hợp không có Giấy chứng minh Công an nhân dân, Giấy chứng minh Quân đội nhân dân thì phải có giấy xác nhận của thủ trưởng cơ quan, đơn vị công tác.

+ Thẻ học viên, sinh viên học theo hệ tập trung từ 2 năm trở lên của các trường trung cấp, cao đẳng, đại học, học viện; giấy giới thiệu của nhà trường.

Mặt khác tại Bộ luật dân sự 2005 quy định  người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi có quyền xác lập tài sản riêng.

Như vậy, pháp luật giới hạn độ tuổi để có thể đứng tên đăng ký xe là từ đủ 15 tuổi trở lên. Bạn chỉ cần đủ có chứng minh nhân dân hoặc cần xuất trình sổ hộ khẩu là đã đủ giấy tờ của chủ xe và có thể đăng ký và đứng tên xe theo quy định của pháp luật.

Câu hỏi: Hỏi về đổi màu sơn xe máy có được không?

Cho em hỏi! Em muốn đổi màu xe, giấy đăng ký xe máy của em là màu xám bạc nay em muốn thay đổi màu sơn xe khác. Vậy em cần đem theo thủ tục gì khi đi và chi phí khoản bao nhiêu?

Người gửi: Lưu Hương Địa chỉ: Phường Tân Hà, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 14/08/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 15/08/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Thủ tục đổi màu sơn xe để đơn giản thì nên chính chủ của xe đi làm thì sẽ tiện hơn, nếu là xe của cơ quan, công ty thì cần có giấy giới thiệu, giấy xác nhận của nơi đó cử người đi thực hiện công việc này. Lưu ý cần chuẩn bị Giấy tờ đăng kí xe bản gốc nhé (thường gọi là Cà-Vẹt, viết tắt là GĐKX và CMND của người đi thực hiện).

Bước 1: Đến nơi tiếp nhận đăng kí của xe Trước đây chúng ta đi đăng kí lấy biển số xe ở đâu thì bây giờ về đó để “xét xe” lại lần nữa, nhằm xin đổi màu sơn cho xe (nôm na là tới CSGT cấp Quận, Huyện của nơi chúng ta sinh sống).

Bước 2: Điền vào chỗ trống Tờ khai đăng kí xe (TKĐKX) Ở đó sẽ phát miễn phí, không cần quan tâm trong đó ghi là đăng kí xe mới hay là đăng kí lần thứ n gì hết, cứ điền đầy đủ thông tin là được. Lưu ý là nhớ cà lại số khung, số máy của xe và dán vô tờ đó. Ở mục Giấy tờ kèm theo, chúng ta ghi số CMND và số của GĐKX.

Bước 3: Nộp hồ sơ Nộp tờ khai, đính kèm GĐKX và CMND, cán bộ CSGT sẽ kiểm tra chiếc xe của chúng ta, và hỏi lí do tại sao muốn đổi màu sơn của xe, ví dụ xe bị trầy nhiều quá, màu sơn cũ quá rồi… Sau đó chúng ta sẽ nói là muốn sơn lại xe theo màu ABC gì đó, ví dụ xe (máy) cũ là Exciter có 3 màu: Trắng-Xanh-Đen; giờ chúng ta sơn lại màu Đỏ-Cam-Trắng.

Cán bộ sẽ ghi xác nhận màu sơn muốn đổi để cấp trong GĐKX mới cho chúng ta. Theo kinh nghiệm cá nhân của mình thì nên đi làm thủ tục trước rồi mới sơn màu xe sau, đỡ lằng nhằng. Nếu ai lỡ sơn xe trước rồi mới đi làm thủ tục đổi màu sơn thì sẽ bị phạt vì lỗi “Tự ý đổi màu sơn xe”, khoảng 150.000 đồng nếu là xe máy.

Bước 4: Đóng lệ phí Tới bước này là xong 99% rồi, chúng ta chỉ còn chờ vài phút để đóng lệ phí cấp GĐKX mới, khoảng 30.000 đồng (xe máy) nếu ở TP HCM. Sau đó chúng ta nhận giấy hẹn, thường là 1 tuần sau thì lên đó lấy GĐKX mới.

Bước 5: Về sơn xe lại theo màu mới đã đăng kí. Lưu ý là đừng có đăng kí màu một đằng rồi về sơn lại một nẻo khác.

 

Câu hỏi: Hỏi về con nuôi có được hưởng chế độ đối với người có công không?

Tôi là thương binh 4/4, vợ tôi có hai con của người chồng trước đã chết. Chúng tôi kết hôn và không có con, vậy tôi muốn nhận hai chau làm con nuôi. Vậy các cháu có được hưởng quyền lợi không? Thủ tục thế nào? xin cảm ơn !

Người gửi: Nguyễn Thị Lan Địa chỉ: Phường Nông Tiến, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 13/08/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 14/08/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Trong trường hợp bạn muốn nhận con nuôi thì trước hết phải đảm bảo đủ các điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi theo quy định của Luật nuôi con nuôi năm 2010.

– Căn cứ Điều 14 Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định về điều kiện đối với người nhận con nuôi như sau:

"Điều 14. Điều kiện đối với người nhận con nuôi

1. Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

b) Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;

c) Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;

d) Có tư cách đạo đức tốt.

2. Những người sau đây không được nhận con nuôi:

a) Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;

b) Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;

c) Đang chấp hành hình phạt tù;

d) Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.

3. Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 điều này."

 

Như vậy, trong trường hợp bạn là cha dượng nhận con riêng của vợ làm con nuôi thì bạn cần đảm bảo điều kiện có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có đạo đức tốt.

– Căn cứ Điều 8 Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định về người được nhận làm con nuôi như sau:

"Điều 8. Người được nhận làm con nuôi

1. Trẻ em dưới 16 tuổi

2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi;

b) Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.

3. Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng.

4. Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ "

Như vậy, điều kiện để được nhận con nuôi đối với người được nhận làm con nuôi trong trường hợp của bạn là phải dưới 18 tuổi.

– Căn cứ Điều 17 Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định về hồ sơ của người nhận con nuôi như sau:

"Điều 17. Hồ sơ của người nhận con nuôi

Hồ sơ của người nhận con nuôi gồm có:

1. Đơn xin nhận con nuôi;

2. Bản sao Hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;

3. Phiếu lý lịch tư pháp;

4. Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân;

5. Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp; văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 14 của Luật này."

– Căn cứ Điều 18 Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định về hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi trong nước như sau:

"Điều 18. Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi trong nước

1. Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi trong nước gồm có:

a) Giấy khai sinh;

b) Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp;

c) Hai ảnh toàn thân, nhìn thẳng chụp không quá 06 tháng;

d) Biên bản xác nhận do Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi lập đối với trẻ em bị bỏ rơi; Giấy chứng tử của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em là đã chết đối với trẻ em mồ côi; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất tích đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ đẻ mất tích; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất năng lực hành vi dân sự đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ để mất năng lực hành vi dân sự;

đ) Quyết định tiếp nhận đối với trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng.

2. Cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ lập hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi sống tại gia đình; cơ sở nuôi dưỡng lập hồ sơ của trẻ em được giới thiệu làm con nuôi sống tại cơ sở "

 

Trong trường hợp bạn muốn nhận con riêng của vợ làm con nuôi thì chuẩn bị hồ sơ của người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi theo quy định nêu trên.

Sau khi hoàn thành thủ tục nhận nuôi con nuôi thì quyền lợi và nghĩa vụ của cha mẹ và con được quy định tại Điều 24 Luật nuôi con nuôi năm 2010 như sau:

"Điều 24. Hệ quả của việc nuôi con nuôi

1. Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thay đổi họ, tên của con nuôi.

Việc thay đổi họ, tên của con nuôi từ đủ 09 tuổi trở lên phải được sự đồng ý của người đó.

3. Dân tộc của con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi.

4. Trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thỏa thuận khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi."

 

Như vậy, kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

– Căn cứ Điều 2 Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng năm 2005 quy định đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi theo Pháp lệnh này như sau:

"Điều 2

Đối tượng hưởng chế độ ưu đãi quy định tại Pháp lệnh này bao gồm:

1. Người có công với cách mạng:

a) Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945;

b) Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng Tám năm 1945;

c) Liệt sĩ;

d) Bà mẹ Việt Nam anh hùng;

đ) Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động;

e) Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;

g) Bệnh binh;

h) Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học;

i) Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày;

k) Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế;

l) Người có công giúp đỡ cách mạng;

2. Thân nhân của người có công với cách mạng quy định tại khoản 1 Điều này."

Mặt khác, căn cứ vào Nghị định 31/2013/NĐ – CP hướng dẫn thân nhân người có công bao gồm:

"Điều 4. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Thân nhân người có công là cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng; con (con đẻ, con nuôi). Thân nhân liệt sĩ còn là người có công nuôi dưỡng liệt sĩ…"

Như vậy, trong trường hợp bạn là thương binh, được hưởng chế độ ưu đãi đối với thương binh thì sau khi nhận nuôi con nuôi, con của bạn sẽ là thân nhân của người có công với cách mạng và được hưởng chế độ ưu đãi theo quy định của pháp luật.

Câu hỏi: Hỏi về mua hàng kém chất lượng trên facebook phải làm thế nào?

Hiện nay trên mạng xã hội Facebook có 1 trang cá nhân chuyên bán pin sạc dự phòng Samsung. Em cũng có đặt mua 1 cục sạc và đã nhận hàng. Trên rao vặt có ghi là bảo hành 6 tháng, nếu sản phẩm có sự cố thì sẽ 1 đổi 1 nên em mới đặt mua hàng. Nhận hàng về em cắm điện thoại vào sạc, nhưng suốt 1giờ mà không lên được 1% pin nào. Sau đó em có phản hồi lên trang cá nhân đó, nhưng họ không những không phản hồi lại cho em mà còn chặn mọi liên lạc của em. Cho em hỏi nếu em trình báo lên cơ quan chức năng, thì đó có được coi là cấu thành tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản không? Và nếu được thì báo sự việc đến cơ quan nào. E xin cảm ơn!

Người gửi: Lê Giang Anh Địa chỉ: Phường Tân Quang, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 12/08/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 13/08/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Nếu trường hợp sau khi bạn liên hệ với phía bên bán hàng để được bảo hành nhưng họ lại có hành vi trốn tránh, chặn mọi liên lạc thì được coi như hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung bởi Luật sửa đổi Bộ luật hình sự 2017 như sau:

“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

 

Cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

– Chủ thể:

+ Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 1, 2 Điều 174 thì người phạm tội đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự

+ Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 3, 4 Điều 174 thì người phạm tội đủ 14 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự.

– Khách thể: Xâm phạm quyền sở hữu của người khác.

– Mặt khách quan của tội phạm:

Hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối, đưa ra những thông tin không đúng sự thật để đánh lừa người khác.

Cụ thể trường hợp này, người bán hàng đã đưa ra những thông tin không đúng sự thật về chất lượng của sản phẩm. Đồng thời, sau khi bạn liên hệ lại để yêu cầu bảo hành thì người đó lại có hành vi trốn tránh, chặn mọi liên hệ để từ chối bảo hành, nhằm chiếm đoạt số tiền bạn đã đưa.

– Mặt chủ quan của tội phạm:

+ Lỗi cố ý

+ Mục đích: chiếm đoạt tài sản; thực hiện được thủ đoạn gian dối (mong muốn người khác tin mình).

Như vậy, bên bán hàng đang có dấu hiệu của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bạn có thể làm đơn trình báo đến cơ quan công an cấp quận, huyện nơi bạn đang cư trú để được giải quyết.

Câu hỏi: Hỏi về 16 tuổi có được đứng tên trên đăng ký xe máy không?

Em năm nay 16 tuổi. Em mua 1 chiếc xe exciter 2006 mua qua nhiều đời chủ xe có giấy mua bán xe,nay e làm mất cà vẹt. Vậy có làm lại được và đứng chủ tên xe không ạ? em cảm ơn!

Người gửi: Nguyễn Văn Trí Địa chỉ: Phường Hưng Thành, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 11/08/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 12/08/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

* Thứ nhất: Về việc cấp lại đăng ký xe đối với trường hợp sang tên xe qua nhiều đời chủ:

Căn cứ Điều 24 Thông tư 15/2014/TT-BCA quy định về đăng ký xe như sau:

– Đăng ký sang tên xe cùng tỉnh: hồ sơ bao gồm:

+ Giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe (mẫu số 03 ban hành kèm theo Thông tư 15/2014/TT-BCA) có cam kết của người đang sử dụng xe chịu trách nhiệm trước pháp luật về xe làm thủ tục đăng ký, có xác nhận về địa chỉ thường trú của người đang sử dụng xe của Công an cấp xã nơi người đang sử dụng xe thường trú.

+ Chứng từ nộp lệ phí trước bạ xe theo quy định.

+ Chứng từ chuyển quyền sở hữu xe của người đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe và chứng từ chuyển quyền sở hữu xe của người bán cuối cùng.

+ Giấy chứng nhận đăng ký xe. Trường hợp bị mất giấy chứng nhận đăng ký xe phải trình bày rõ lý do trong giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe (mẫu số 03 ban hành kèm theo Thông tư 15/2014/TT-BCA).

Trường hợp người đang sử dụng xe có chứng từ chuyển quyền sở hữu xe của người đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe và chứng từ chuyển quyền sở hữu xe của người bán cuối cùng thì trong thời hạn hai ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan đăng ký xe phải giải quyết cấp giấy chứng nhận đăng ký xe cho người đang sử dụng xe; giữ nguyên biển số cũ (trừ biển loại 3 số, 4 số hoặc khác hệ biển thì thu lại biển số cũ để đổi sang biển 5 số theo quy định).

Trường hợp người đang sử dụng xe không có chứng từ chuyển quyền sở hữu xe thì giấy hẹn có giá trị được sử dụng xe trong thời gian 30 ngày chờ cơ quan đăng ký xe trả kết quả.

Cơ quan đăng ký xe gửi thông báo đến người đứng tên trong đăng ký xe biết và niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan đăng ký xe, tra cứu tàng thư xe mất cắp và dữ liệu đăng ký xe. Sau 30 ngày kể từ ngày gửi thông báo và niêm yết công khai, cơ quan đăng ký xe giải quyết cấp giấy chứng nhận đăng ký xe cho người đang sử dụng xe; giữ nguyên biển số cũ (trừ biển loại 3 số, 4 số hoặc khác hệ biển thì thu lại biển số cũ để đổi sang biển 5 số theo quy định).

– Trường hợp đăng ký xe khác tỉnh: hồ sơ bao gồm:

+ 02 giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe (mẫu số 03 ban hành kèm theo Thông tư 15/2014/TT-BCA) có cam kết của người đang sử dụng xe chịu trách nhiệm trước pháp luật về xe làm thủ tục đăng ký, có xác nhận về địa chỉ thường trú của người đang sử dụng xe của Công an cấp xã nơi người đang sử dụng xe thường trú.

+ Chứng từ chuyển quyền sở hữu xe của người đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe và chứng từ chuyển quyền sở hữu của người bán cuối cùng.

+ Giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số xe. Trường hợp bị mất giấy chứng nhận đăng ký xe hoặc biển số xe phải trình bày rõ lý do trong giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe (mẫu số 03 ban hành kèm theo Thông tư 15/2014/TT-BCA).

* Thứ hai: Độ tuổi đứng tên trên giấy đăng ký xe:

Hiện tại, pháp luật không quy định cụ thể độ tuổi đứng tên trên giấy đăng ký xe mà chỉ quy định về độ tuổi điều khiển phương tiện giao thông.

Đồng thời, Điều 21 Bộ luật dân sự 2015 quy định về việc thực hiện giao dịch của người chưa thành niên như sau:

“Điều 21. Người chưa thành niên

4. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.”

Như vậy, khi bạn thực hiện thủ tục mua bán xe và đăng ký đứng tên trên đăng ký xe chỉ cần được người đại diện theo pháp luật đồng ý.

Câu hỏi: Hỏi về làm thiết hại vườn quýt nhà hàng xóm trách nhiệm bồi thường thế nào?

Em cần tư vấn: cho em hỏi bên A đốt đồng cháy lan qua vườn quýt nhà em làm thiệt hại cây chết hơn 40 gốc quýt. Vậy cho em hỏi  trường hợp này sẽ giải quyết  như thế nào ạ và mức bồi thường ra sao ạ? 

Người gửi: Tô Châu Địa chỉ: Phường Nông Tiến TP Tuyên Quang Ngày gửi: 10/08/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 11/08/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Theo như bạn trình bày bên A đốt đồng cháy lan qua vườn quýt nhà bạn làm thiệt hại cây chết hơn 40 gốc quýt. Vậy khi có hành vi đốt đồng làm thiệt hại về tài sản nhà bạn như vậy bạn đã báo lên cơ quan có chức năng như công an khu vực để họ xuống kiểm tra hiện trường hay chưa? Và khi công an xuống kiểm tra họ đã có kết quả giám định hay kết luận về việc cây chết là nguyên nhân do đốt đồng hay không? Thiệt hại hơn 40 gốc quýt nhà bạn có ảnh

hưởng như thế nào đến gia đình bạn? Do bạn chưa cung cấp rõ thông tin nên bạn có thể tham khảo theo các căn cứ pháp lý sau:

Căn cứ tại Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 quy định về Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau:

“1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

 

Bên A có hành vi đốt đồng và hành vi này đã xâm phạm tài sản của nhà bạn làm thiệt hại hơn 40 gốc quýt. Hành vi của bên A là căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho nhà bạn.

Về mức bồi thường thiệt hại:

Căn cứ tại Điều 589 BLDS 2015 quy định về Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm:

“1. Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng.

2.Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút.

3.Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.

4.Thiệt hại khác do luật quy định”.

Bên A có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản bị mất là 40 gốc cây quýt của nhà bạn, chi phí dập lửa để ngăn chặn, hạn chế các thiệt hại và một số thiệt hại khác nếu có mà gia đình bạn chứng minh được. Trong trường hợp bên A chứng minh được việc đó là lỗi vô ý thì bên A cũng có thể được giảm mức bồi thường.

Câu hỏi: Hỏi về điều kiện và thủ tục cấp lại chứng minh nhân dân khi bị mất mới nhất năm 2019

Em muốn đổi CMND, nhưng lúc sắp đi đổi thì lại bị ăn cướp giật túi xách mất luôn CMND. Vậy nếu không có CMND cũ thì đổi CMND mới có được không, thủ tục như thế nào? Rất mong nhận được câu trả lời ạ!

Người gửi: Tạ Phương Anh Địa chỉ: Tổ 11, Phường MInh Xuân, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 09/08/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 10/08/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Bạn hoàn toàn có thể xin cấp lại CMND nếu bạn đủ điều kiện và làm đúng thủ tục mà mình nêu dưới đây:

  • Điều kiện để cấp lại CMND

+ Đã cấp CMND.

+ Bị mất chứng minh nhân dân.

+ Không thuộc diện đối tượng tạm thời chưa được cấp CMND.

  • Đối tượng tạm thời chưa được cấp CMND gồm:

+ Đang chấp hành lệnh tạm giam tại trại giam, nhà tạm giữ.

+ Đang thi hành án phạt tù tại trại giam, phân trại quản lý phạm nhân thuộc trại tạm giam;

+ Đang chấp hành quyết định đưa vào các trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, CS chữa bệnh;

+ Những người đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác không có khả năng điều khiển được năng lực hành vi của bản thân, gồm người bị bệnh đang điều trị tập trung tại các bệnh viện tâm thần, cơ sở y tế khác hoặc tuy không điều trị tập trung nhưng cơ quan y tế có thẩm quyền chứng nhận họ bị bệnh không điều khiển được năng lực hành vi.

  • Thủ tục cấp lại CMND bị mất

Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ gồm:

– Sổ hộ khẩu.

– Đơn đề nghị cấp CMND (Mẫu CM3), có ảnh đóng dấu giáp lai và xác nhận của Công an phường, xã, thị trấn.

– 02 ảnh 3×4 (mắt nhìn thẳng, không đeo kính, không để râu, tóc không trùm tai, trùm gáy, nếu là phụ nữ không để hở ngực).

– Giấy tờ chứng minh thuộc diện không thu lệ phí cấp CMND (bản photocopy kèm bản chính để đối chiếu).

Bước 2: Nộp hồ sơ tại Đội cấp CMND, phòng CSQLHC về TTXH Công an tỉnh

– Cán bộ công an sẽ hướng dẫn:

+ Kê khai tờ khai cấp CMND (theo mẫu có sẳn);

+ In vân tay hai ngón trỏ vào chỉ bản, tờ khai (theo mẫu) hoặc thu vân tay hai ngón trỏ qua máy lấy vân tay tự động để in vào chỉ bản và CMND.

+ Viết giấy biên nhận trao cho người nộp

– Thời gian: Từ thứ 2 đến sáng thứ 7 hàng tuần (ngày lễ nghỉ)

Bước 3: Nhận CMND

– Người nhận đưa giấy biên nhận từ thứ 2 đến sáng thứ 7 hàng tuần (ngày lễ nghỉ) để nhận lại CMND tại địa điểm đã làm CMND.

  • Thời hạn cấp lại CMND bị mất

+ Tại Công an thành phố: Không quá 06 ngày làm việc nếu không qua tra cứu và không quá 10 ngày làm việc nếu phải qua tra cứu (kể từ ngày nhận đủ hồ sơ).

+ Tại Công an huyện đồng bằng: Không quá 10 ngày làm việc nếu không qua tra cứu và không quá 15 ngày làm việc nếu phải qua tra cứu (kể từ ngày nhận đủ hồ sơ).

+ Tại Công an các huyện miền núi, hải đảo: Không quá 15 ngày làm việc nếu không qua tra cứu và không quá 20 ngày làm việc nếu phải qua tra cứu (kể từ ngày nhận đủ hồ sơ).

  • Lệ phí cấp lại CMND

+ 6000 đồng/lần cấp đổi CMND (không bao gồm tiền ảnh của người được cấp) đối với các phường thuộc thành phố.

+ 3.000 đồng/lần cấp đổi CMND (không bao gồm tiền ảnh của người được cấp) đối với các xã, thị trấn của huyện, thành phố thuộc tỉnh (trừ xã, thị trấn, vùng cao).

+ Không thu lệ phí đối với các trường hợp: bố, mẹ, vợ, chồng, con dưới 18 tuổi của liệt sĩ; thương binh, con dưới 18 tuổi của thương binh; công dân thuộc xã, thị trấn vùng cao theo qui định của Uỷ ban Dân tộc;

Câu hỏi: Hỏi về hành vi đốt rừng bị xử phạt như thế nào?

Cho em hỏi !Gia đình em sở hữu 0.7 hecta rừng. Vừa rồi em có đốt rừng để trồng mới, bị công an xã phát hiện và lập biên bản. Vậy cho em hỏi chúng em sẽ bị xử lý như thế nào ạ? Em cảm ơn ạ?

Người gửi: Nguyễn Tuân Địa chỉ: Xã Trung Môn, Yên Sơn, Tuyên Quang Ngày gửi: 08/08/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 09/08/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau: 

Căn cứ Điều 20 Nghị định 157/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản như sau:

“Điều 20. Phá rừng trái pháp luật

Người có hành vi chặt phá cây rừng; đào bới, san ủi, nổ mìn, đào, đắp ngăn nước, xả chất độc hoặc các hành vi khác gây thiệt hại đến rừng với bất kỳ mục đích gì (trừ hành vi quy định tại Điều 12 của Nghị định này) mà không được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc được phép chuyển đổi mục đích sử dụng rừng nhưng không thực hiện đúng quy định cho phép bị xử phạt như sau:

1. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi phá rừng trái pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc kiểu trạng thái rừng 1c dưới 1.500 m2.

b) Rừng sản xuất dưới 800 m2.

c) Rừng phòng hộ dưới 500 m2.

d) Rừng đặc dụng dưới 200 m2.

2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi phá rừng trái pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc kiểu trạng thái rừng 1c từ 1.500 m2 đến 5.000 m2.

b) Rừng sản xuất từ 800 m2 đến 1.000 m2.

c) Rừng phòng hộ từ 500 m2 đến 800 m2.

d) Rừng đặc dụng từ 200 m2 đến 300 m2.

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi phá rừng trái pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc kiểu trạng thái rừng 1c từ trên 5.000 m2 đến 10.000 m2.

b) Rừng sản xuất từ trên 1.000 m2 đến 2.000 m2.

c) Rừng phòng hộ từ trên 800 m2 đến 1.500 m2.

d) Rừng đặc dụng từ trên 300 m2 đến 500 m2.

4. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi phá rừng trái pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc kiểu trạng thái rừng 1c từ trên 10.000 m2 đến 20.000 m2.

b) Rừng sản xuất từ trên 2.000 m2 đến 3.000 m2.

c) Rừng phòng hộ từ trên 1.500 m2 đến 2.000 m2.

d) Rừng đặc dụng từ trên 500 m2 đến 700 m2.

5. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi phá rừng trái pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc kiểu trạng thái rừng 1c từ trên 20.000 m2 đến 30.000 m2.

b) Rừng sản xuất từ trên 3.000 m2 đến 5.000 m2.

c) Rừng phòng hộ từ trên 2.000 m2 đến 3.000 m2.

d) Rừng đặc dụng từ trên 700 m2 đến 1.000 m2.

6. Hình thức xử phạt bổ sung

Tịch thu tang vật, công cụ, phương tiện đối với hành vi quy định tại Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4, Khoản 5 Điều này.

7. Biện pháp khắc phục hậu quả

Buộc áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Điểm b, c, i khoản 1 Điều 28 Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 1 Điều 4 của Nghị định này đối với hành vi vi phạm hành chính quy định tại Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4, Khoản 5 Điều này.”

 

Trong trường hợp của bạn, đối với hành vi phá rừng sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 20 Nghị định 157/2013/NĐ-CP tùy thuộc vào loại rừng và diện tích rừng bị thiệt hại do hành vi đốt rừng gây nên. Theo thông tin bạn cung cấp diện tích rừng bị đốt là 0.7ha tức 7000m2 tuy nhiên bạn không cung cấp loại rừng này là loại rừng gì nên không thể cung cấp chính xác mức xử phạt. Từ hành vi của mình và mức độ thiệt hại, bạn đối chiếu theo quy định tại Điều 20 Nghị định 157/2013/NĐ-CP nêu trên để xác định mức xử phạt vi phạm hành chính. 

Trong trường hợp mức độ thiệt hại của hành vi huỷ hoại rừng sản xuất với diện tích từ trên mức tối đa bị xử phạt vi phạm hành chính đến hai lần mức tối đa bị xử phạt vi phạm hành chính thì được xác định là gây hậu quả nghiêm trọng và có thể cấu thành tội phạm hình sự về tội hủy hoại rừng.

– Căn cứ Điều 189 Bộ luật hình sự năm 1999 về tội hủy hoại rừng như sau:

“Điều 189. Tội huỷ hoại rừng

 

1. Người nào đốt, phá rừng trái phép rừng hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Hủy hoại diện tích rừng rất lớn;

d) Chặt phá các loại thực vật quý hiếm thuộc danh mục quy định của Chính phủ;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Hủy hoại diện tích rừng đặc biệt lớn;

b) Hủy hoại rừng phòng hộ, rừng đặc dụng;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Như vậy, trong trường hợp của bạn, tùy thuộc vào hành vi cụ thể và mức độ thiệt hại của rừng mà mức xử phạt khác nhau theo các căn cứ nêu trên.

 

Câu hỏi: Ký kết Hợp đồng lao động với người lao động đã nghỉ hưu

Xin hỏi tôi muốn ký hợp đồng ba năm với lao động đã nghỉ hưu làm công việc chuyên môn kỹ thuật có được không?

Người gửi: Nguyễn Hải Anh Địa chỉ: Đường Quang Trung, Phường Tân Quang, TP Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày gửi: 28/03/2019
Câu hỏi: Các chế độ bảo hiểm của người lao động nữ trong thời gian nghỉ thai sản

Xin hỏi :Tôi nghỉ thai sản đúng quy định hiện hành là 04 tháng, có hồ sơ hợp lệ. Vậy tôi có phải đóng bảo hiểm y tế trong 4 tháng nghỉ này không?

Người gửi: Nguyễn Phương Anh Địa chỉ: Tổ 8, Phường Hưng Thành, TP Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử
Ngày gửi: 26/03/2019
Câu hỏi: Câu hỏi chính sách theo Nghị định 116/2010/NĐ-CP

Theo tôi được biết, ngày 28/4/2017 Chính phủ đã ban hành Quyết Định số 582/QĐ-TTg phê duyệt thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016- 2020, xin hỏi: Viên chức trạm khuyến nông huyện được giao phụ trách xã thuộc khu vực III tại Quyết Định số 582/QĐ-TTg có được hưởng chính sách theo nghị định 116/2010 hay không? Xin cám ơn!

Người gửi: Ma Bá Thành Địa chỉ: Trạm khuyến nông huyện Chiêm Hóa
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Nội vụ
Ngày gửi: 23/03/2018
Câu hỏi: Thủ tục giấy phép xây dựng nhà ở

Mảnh đất nhà tôi đang ở ngày trước thuộc quản lý của Rạp Chiếu bóng, giờ bàn giao lại cho UBND huyện (Sơn Dương) quản lý. Trước gia đình tôi mua lại căn nhà của cơ quan và tham gia đóng thuế đất từ trước năm 1990. Hiện nay nhà ở của gia đình tôi xuống cấp nghiêm trọng có thể sụp đổ bất cứ lúc nào. Tôi muốn sửa chữa lại có được không? nếu được cần làm những thủ tục gì?

Mảnh đất đó có đủ điều kiện để cấp sổ đỏ hay không và nếu thu hồi lại, gia đình tôi có được cắm lại chỗ ở mới không?

Tôi xin chân thành cám ơn!

Người gửi: Đinh Gia Huyên Địa chỉ: Tổ dân phố Quyết Thắng, TT. Sơn Dương, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Tài nguyên và Môi trường
Ngày gửi: 21/02/2018
Câu hỏi: Hỏi về làm đường

Tôi là Nguyễn Thị Quý, công dân tổ 40, phường Minh Xuân, thành phố Tuyên Quang. Tôi xin hỏi 1 việc như sau: Tổ 40 là nơi ra đời chi bộ Mỏ Than (chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh). Tuy nhiên con đường Nguyễn Thị Minh Khai, đặc biệt là đường vào ngõ 38 qua khu dân cư nơi đây đã xuống cấp nghiêm trọng gần chục năm nay. Mặt đường ngay phía trước nhà tôi lởm chởm toàn đá, ổ gà. Ngay phía đầu ngõ rẽ từ Tỉnh ủy xuống còn 1 phần taluy bằng đất gò ụ nhô ra dài hàng chục mét che khuất tầm nhìn, nguy hiểm cho người tham gia giao thông. Hơn nữa hai năm trở lại đây trong khu dân cư có nhiều hộ xây, sửa nhà cửa khiến cát sỏi trôi ra đường rất nhiều, phương tiện tham gia giao thông khi tránh nhau thường bị trượt cát loạng choạng mà ngã. Đã có rất nhiều người ngã xe, va chạm giao thông bị thương phải đưa đi sơ cứu tại bệnh viện. 

Người dân trong tổ đã kiến nghị nhiều lần đến cấp có thẩm quyền, và đã nhiều lần được hứa sẽ sớm làm con đường này. Nhân dân trong tổ tin tưởng lời hứa của cấp có thẩm quyền, nhưng mong mỏi từ năm này qua năm khác mà con đường vẫn ngày càng xuống cấp nghiêm trọng. Hôm nay tôi đưa câu hỏi này đến Cổng Thông tin điện tử tỉnh đề nghị được cấp có thẩm quyền trả lời bao giờ thì con đường qua tổ 40 Minh Xuân, nơi ra đời chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh được khởi công xây dựng đáp ứng niềm mong mỏi của nhân dân.

Tôi mong nhận được phản hồi sớm. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Nguyễn Thị Quý Địa chỉ: Tổ 40, phường Minh Xuân, thành phố Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Giao thông vận tải
Ngày gửi: 17/01/2018
Câu hỏi: Việc làm cho sinh viên cử tuyển

Nhờ Ban Biên Tập chuyển lời hộ em. 

Theo NĐ-CP số 134/2006 Tại chương III Điều 11 có ghi rõ về việc tiếp nhận, phân công công tác cho người được cử đi học theo chế độ cử tuyển sau khi tốt nghiệp. Và trong khoản 1 điều 11 có ghi rõ là "Hàng năm, các cơ sở giáo dục gửi danh sách, bàn giao hồ sơ và bằng tốt nghiệp của người học theo chế độ cử tuyển tốt nghiệp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh". Vậy cho em hỏi,  Em là sinh viên trường ĐHXD Hà Nội tốt nghiệp năm 2015 và sau khi ra trường không thấy Sở Giáo dục bàn giao hồ sơ của em cho UBND tỉnh để phân công công tác theo chế độ cử tuyển. Em xin cảm ơn.

Người gửi: Đặng Bùi Anh Đức Địa chỉ: Yên Sơn tuyên quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Nội vụ
Ngày gửi: 15/10/2017
Câu hỏi: Về việc chợ Phan Thiết tràn lan ra đường phố

Từ khi xây dựng lại chợ Phan Thiết (ngay trung tâm thành phố, gần Tỉnh uỷ), bà con tràn ra đường (đường Hồng Thái) buôn bán, rác thải, nước thải vứt ra đầy đường rất mất vệ sinh; những hộ gia đình nằm trong khu vực này, trong đó có gia đình tôi và các tổ 15,7,16,...rất bất tiện trong việc di chuyển, đôi khi còn bị người bán hàng chửi bới, đánh đập vì đi ô tô vào đây.

Vấn đề này tôi cũng đã thấy chính quyền (UBND phường Phan Thiết) có thời gian xử lý, nhưng xử lí không triệt để (cụ thể: không thu hàng hoá của người sai phạm, cho bán hàng nửa bên trong chợ từ khách sạn Thành Trung vào trong nhưng người bán hàng vẫn lấn ná ra ngoài, chỉ thực hiện được 1 thời gian ngắn xong lại đâu vào đấy...).

Vậy tôi xin hỏi trách nhiệm giải tán khu chợ tạm này thuộc về ai hay cơ quan chức năng nào và bao giờ thì xử lí xong?

Đề nghị cơ quan đó có phương án giải tán khu vực trên, xử lí rác thải, nước thải rõ ràng để tình hình cuộc sống của chúng tôi trở lại bình thường.

Tôi xin chân thành cảm ơn các vị lãnh đạo tỉnh đã lắng nghe!

Người gửi: Trần Văn Khải Địa chỉ: Tổ 16, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Thành phố Tuyên Quang
Ngày gửi: 21/09/2017
Câu hỏi: Lập dự toán xây dựng công trình quy mô nhỏ

Tại điểm a khoản 1 Điều 82 Luật xây dựng năm 2014 quy định thẩm quyền thẩm định thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công và dự toán xây dựng: “Đối với công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước: Cơ quan chuyên môn về xây dựng theo phân cấp chủ trì thẩm định thiết kế kỹ thuật, dự toán xây dựng trong trường hợp thiết kế ba bước; thiết kế bản vẽ thi công, dự toán xây dựng trong trường hợp thiết kế hai bước”.

Như vậy, đối với Báo cáo kinh tế - kỹ thuật (thiết kế một bước), Luật Xây dựng năm 2014 không quy định thẩm định thiết kế bản vẽ thi công và dự toán xây dựng.

Các công trình trên địa bàn huyện (UBND huyện là chủ đầu tư) phần lớn là thiết kế một bước (chủ yếu dưới 03 tỷ đồng). Tuy nhiên trong dự toán các công trình (thiết kế 01 bước) lại có chi phí thẩm tra thiết kế và chi phí thẩm tra dự toán. Cho hỏi việc tính chi phí như vậy có đúng không?

Tệp đính kèm: Tải về
Người gửi: Cường Anh Địa chỉ: Na Hang, Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Xây dựng
Ngày gửi: 06/09/2017
Câu hỏi: Chế độ của cử tuyển

Tôi là sinh viên cử tuyển của tỉnh Tuyên Quang, tôi học trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội. Trong quyết định cử tôi đi học từ năm 2004 đến năm 2009 có ghi rõ là sau khi tôi tốt nghiệp ra trường tôi sẽ phải về tỉnh công tác theo sự phân công công tác của Chủ tịch UBND Tỉnh. Tôi muôn hỏi tại sao từ khi tốt nghiệp ra trường đến nay vẫn chưa được phân công công tác?

Tệp đính kèm: Tải về
Người gửi: Ma Thị Chinh Địa chỉ: Xã Yên Thuận - Huyện Hàm Yên - Tỉnh Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Nội vụ
Ngày gửi: 04/08/2017
Lưu ý: Bạn phải nhập đầy đủ, chính xác các thông tin để Ban biên tập thuận lợi trong việc liên lạc, hỗ trợ.
(Các ô có dấu (*) bắt buộc phải nhập dữ liệu)
Mã bảo vệ
Retype the CAPTCHA code from the image
Change the CAPTCHA codeSpeak the CAPTCHA code
 
Hiện nay, do số lượng câu hỏi gửi về BBT Cổng Thông tin điện tử nhiều, vì vậy, BBT chỉ trả lời các câu hỏi có nội dung rõ ràng, ngắn gọn, không sai lỗi chính tả, điền đầy đủ các thông tin và không trùng lặp với các câu hỏi hoặc câu trả lời đã có. Nếu trường hợp nội dung câu hỏi dài thì soạn thảo thành định dạng word và gửi theo file đính kèm. Thời hạn trả lời là 20 ngày (đối với các câu hỏi phải gửi tới các ngành liên quan).

BBT CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH TUYÊN QUANG

Liên kết chuyên mục