Từ khóa:
Câu hỏi: Hỏi về khai thác gỗ rừng

Kinh gui Ban Biên tập, ngày 31/03/2019, một cây cổ thụ khoảng hơn 200 năm đã bị chặt hạ tại đường đèo cũ Khau Lắc, cách điểm trường mầm non đi lên 100 m, tại thôn Nà Mèn, xã Lăng Can, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang. Đề nghị các cơ quan xác minh làm rõ.

Người gửi: Nguyễn Minh Địa chỉ: Huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang Ngày gửi: 04/04/2019
Cơ quan trả lời: Sở ban ngành
Ngày trả lời:

Sau khi nhận được câu hỏi, Cổng Thông tin Điện tử đã có trao đổi với Hạt Kiểm lâm huyện Lâm Bình và nhận được trả lời như sau:

Hạt Kiểm lâm huyện Lâm Bình đã nhận được thông tin phản hồi của Ban biên tập cổng Thông tin điện tử Tuyên Quang về ý kiến của độc giả đề nghị kiểm tra việc khai thác gỗ trên địa bàn xã Lăng Can, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang;

Hạt Kiểm lâm huyện Lâm Bình thông tin và trả lời như sau:

1. Xác nhận thông tin về khai thác gỗ tại thôn Nà Mèn, xã Lăng Can, huyện Lâm Bình là đúng thực tế.

2. Kết quả kiểm tra, xác minh: Hạt Kiểm lâm huyện Lâm Bình đã phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã Lăng Can tiến hành kiểm tra, xác minh cụ thể:

- Hộ gia đình khai thác: Ông Nguyễn Thế Dong (con trai ông Nguyễn Thế Trên đã chết), địa chỉ: Thôn Bản Kè B, xã Lăng Can, huyện Lâm Bình.

- Về loài cây gỗ khai thác: gỗ Sui (thuộc gỗ thông thường nhóm VII).

- Về số lượng, khối lượng gỗ khai thác: Số lượng 02 cây, khối lượng = 60 m3;

- Về nguồn gốc đất: Hộ gia đình ông Nguyễn Thế Dong (địa chỉ trên) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL: 499157 cấp ngày 31/10/2007 do Ủy ban nhân dân huyện Na Hang, mang tên ông Nguyễn Thế Trên (đã chết), với diện tích là 6.500 m2 đất lâm nghiệp.

- Về nguồn gốc gỗ khai thác: Theo ông Dong cho biết: Ông được thừa kế từ bố, mẹ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trên đó có 02 cây gỗ Sui do ông, bà trồng từ trước, không có tranh cấp.

- Về hiện trạng, vị trí khai thác: Lô 20, khoảnh 424 (bản đồ điều chính quy hoạch phân 3 loại rừng theo Quyết định số 1859 của UBND tỉnh) trạng thái rừng NN, chức năng là rừng sản xuất. Thực tế tại hiện trường khai thác trên diện tích đã được giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ có 02 cây gỗ Sui.

3. Trình tự, thủ tục khai thác thực vật rừng thông thường: Theo quy định tại Khoản 9, Khoản 10 Điều 2 và Điểm b, Khoản 2, Điều 7 của Luật Lâm nghiệp năm 2017 thì ông Nguyễn Thế Dong là người thừa kế rừng từ chủ rừng theo quy định của pháp luật.

Trường hợp của ông Nguyễn Thế Dong, địa chỉ: Thôn Bản Kè B, xã Lăng Can, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang khai thác 02 cây gỗ Sui trên diện tích đất đã được nhà nước giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là áp dụng theo Điều 15 của Thông tư số 27/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và PTNT quy định về quản lý, truy xuất nguồn gốc lâm sản (tại Khoản 1: Đối tượng được khai thác gồm: Gỗ rừng trồng, gỗ vườn và cây trồng phân tán thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân, bao gồm cả gỗ được trồng theo dự án hỗ trợ của nhà nước,...; tại Khoản 2: Về trình tự thực hiện khai thác: Chủ rừng tự quyết định việc khai thác. Sau khi khai thác chủ lâm sản lập bảng kê lâm sản.

Căn cứ kết quả kiểm tra, xác minh và làm việc với hộ gia đình ông Dong thì việc khai thác 02 cây gỗ Sui của ông Dong áp dụng theo quy định tại Điều 15 của Thông tư số 27/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và PTNT quy định về quản lý, truy xuất nguồn gốc lâm sản.

Câu hỏi: Xây dựng và GTVT

Xin hỏi: Trong thời hạn bao lâu kể từ khi ban hành quyết định đình chỉ thi công thì công trình vi phạm bị cưỡng chế phá dỡ?

Người gửi: Phạm Việt Anh Địa chỉ: Phường Tân Quang, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 01/04/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 02/04/2019

Việc cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm được thực hiện theo quy định tại Điều 24 Nghị định số 180/2007/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Xây dựng về xử lý vi phạm trật tự xây dựng đô thị.

Uỷ ban nhân dân cấp xã ban hành quyết định cưỡng chế phá dỡ và tổ chức phá dỡ sau thời hạn 03 ngày (kể cả ngày nghỉ) kể từ khi ban hành quyết định đình chỉ thi công xây dựng đối với công trình xây dựng không phải lập phương án phá dỡ.

Uỷ ban nhân dân cấp xã ban hành quyết định cưỡng chế phá dỡ và tổ chức phá dỡ sau thời hạn 10 ngày (kể cả ngày nghỉ) kể từ khi ban hành quyết định đình chỉ thi công xây dựng đối với công trình xây dựng phải lập phương án phá dỡ mà chủ đầu tư không tự thực hiện nội dung ghi trong biên bản ngừng thi công xây dựng.

Chủ đầu tư phải chịu toàn bộ chi phí lập phương án phá dỡ và chi phí tổ chức cưỡng chế phá dỡ.

Câu hỏi: Hồ sơ cấp giấy phép xây dựng

Xin hỏi: Vợ chồng tôi được cha mẹ cho 01 mảnh đất để ra ở riêng. Tôi dự định xây nhà trên đất đó nên chuẩn bị các giấy tờ để xin cấp phép xây dựng. Đề nghị cho biết, tôi phải lập hồ sơ như thế nào và nộp ở đâu để được cấp Giấy phép xây dựng?

Người gửi: Phạm Hùng Anh Địa chỉ: Phường Phan Thiết, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 01/04/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 02/04/2019

BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời câu hỏi như sau:

Các công trình xây dựng khi tiến hành khởi công phải có Giấy phép xây dựng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo Chương V Luật Xây dựng thì hồ sơ xin cấp Giấy phép xây dựng gồm:

- Đơn xin cấp Giấy phép xây dựng (theo mẫu do Bộ Xây dựng hướng dẫn);

- Bản sao một trong những giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai có công chứng.

- Bản vẽ thiết kế thể hiện được vị trí mặt bằng, mặt cắt, mặt đứng điển hình; mặt bằng móng của công trình; sơ đồ vị trí hoặc tuyến công trình; sơ đồ hệ thống và điểm đấu nối kỹ thuật cấp điện, cấp nước, thoát nước; ảnh chụp hiện trạng (đối với công trình sửa chữa, cải tạo yêu cầu phải có Giấy phép xây dựng).

- Khi xây dựng nhà ở riêng lẻ trong vùng đã có quy hoạch xây dựng được duyệt và công bố nhưng chưa thực hiện thì hồ sơ cần phải có Giấy cam kết tự phá dỡ công trình khi Nhà nước thực hiện quy hoạch xây dựng. (Trong trường hợp này chỉ được cấp Giấy phép xây dựng tạm có thời hạn theo thời hạn thực hiện quy hoạch).

- Nộp lệ phí cấp Giấy phép xây dựng. Lệ phí cấp Giấy phép xây dựng thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

Căn cứ vào quy mô và đặc thù của công trình, ông (bà) có thể nộp hồ sơ xin cấp Giấy phép xây dựng tại những cơ quan sau:

- Uỷ ban nhân dân cấp huyện cấp Giấy phép xây dựng đối với các công trình xây dựng trong đô thị, các trung tâm cụm xã thuộc địa giới quản lý hành chính của quận, huyện mình, trừ các công trình xây dựng thuộc thẩm quyền cấp phép của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

- Uỷ ban nhân dân cấp xã cấp Giấy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ ở những điểm dân cư nông thôn đã có quy hoạch xây dựng được duyệt, những điểm dân cư theo quy định của Uỷ ban nhân dân cấp huyện phải cấp Giấy phép xây dựng thuộc địa giới hành chính mình quản lý.

Khi tiếp nhận hồ sơ xin phép xây dựng, cơ quan cấp Giấy phép có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, nếu hồ sơ xin cấp Giấy phép xây dựng chưa đầy đủ thì cơ quan cấp Giấy phép xây dựng phải giải thích, hướng dẫn cho người xin cấp Giấy phép xây dựng bổ sung hồ sơ theo đúng quy định. Thời gian hoàn chỉnh hồ sơ không tính vào thời hạn cấp Giấy phép xây dựng. Trường hợp hồ sơ có đủ giấy tờ hợp lệ, cơ quan cấp Giấy phép xây dựng sẽ trao giấy biên nhận trong đó hẹn ngày nhận kết quả. Giấy biên nhận được lập thành 02 bản, một bản giao cho người xin cấp Giấy phép xây dựng và một bản lưu tại cơ quan cấp Giấy phép xây dựng.

Đối với nhà ở riêng lẻ thì thời hạn cấp Giấy phép xây dựng không quá 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

Câu hỏi: Chứng thực hợp đồng mua bán xe

Xin hỏi: Hợp đồng mua bán/tặng cho xe có được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã không. Em xin cám ơn!

Người gửi: Phan Nghĩa Trọng Địa chỉ: Lăng Quán, Trung Môn, Yên Sơn, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 31/03/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 01/04/2019

BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch quy định về thẩm quyền chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn như sau: Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) có thẩm quyền và trách nhiệm:

- Chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp hoặc chứng nhận;

- Chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản, trừ việc chứng thực chữ ký người dịch;

- Chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản là động sản;

- Chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai;

- Chứng thực hợp đồng, giao dịch về nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở;

- Chứng thực di chúc;

- Chứng thực văn bản từ chối nhận di sản;

- Chứng thực văn bản thỏa thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản mà di sản là tài sản quy định tại các Điểm c, d và đ Khoản này.

Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện ký chứng thực và đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã.

Theo quy định nêu trên, hợp đồng mua bán/tặng cho xe (động sản) có thể được chứng thực ở Ủy ban nhân dân cấp xã. Thủ tục chứng thực được thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 36 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015.

Câu hỏi: Có những loại hợp đồng lao động nào?

Xin hỏi: Tôi vừa tốt nghiệp lớp học nghề và đang chuẩn bị xin việc làm. Tôi nghe nói, khi được tiếp nhận vào làm việc ở doanh nghiệp thì phải ký hợp đồng lao động với doanh nghiệp. Vậy xin hỏi hợp đồng lao động là gì ? Có những loại hợp đồng lao động nào?

Người gửi: Ngô Hà Như Địa chỉ: Phường Minh Xuân, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 31/03/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 01/04/2019

BBT Cổng Thông tin xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Điều 26 Bộ luật Lao động năm 1994 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động năm 2002, 2006,2007 quy định: Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.

Điều 27 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động năm 2002, 2006, 2007 và Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động (Nghị định số 44/2003/NĐ-CP) xác định có các loại hợp đồng sau đây:

1. Hợp đồng lao động không xác định thời hạn áp dụng cho những công việc không xác định được thời điểm kết thúc hoặc những công việc có thời hạn trên 36 tháng.

2. Hợp đồng lao động xác định thời hạn áp dụng cho những công việc xác định được thời điểm kết thúc trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng.

3. Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng áp dụng cho những công việc có thể hoàn thành trong khoảng thời gian dưới 12 tháng hoặc để tạm thời thay thế người lao động bị kỷ luật chuyển làm công việc khác có thời hạn, người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người lao động nghỉ việc vì lý do khác và hợp đồng với người đã nghỉ hưu.

Khi hợp đồng lao động xác định thời hạn và hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp động lao động mới. Trong thời hạn chưa ký được hợp đồng lao động mới, hai bên phải tuân theo hợp đồng lao động đã giao kết. Khi hết thời hạn 30 ngày mà không ký hợp đồng lao động mới, hợp đồng lao động đã giao kết trở thành hợp đồng không xác định thời hạn. Trường hợp ký hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn, thì chỉ được ký thêm một thời hạn không quá 36 tháng, sau đó nếu người lao động tiếp tục làm việc thì ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn; nếu không ký thì đương nhiên trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

Câu hỏi: Bồi thường khi bị tai nạn lao động

Tôi là học sinh, nghỉ hè đi làm thêm ở một công ty. Trong lúc làm việc tôi bị mất 4 ngón tay của bàn tay phải. Công ty đã trả tiền viện phí cho tôi. Xin hỏi ngoài tiền viện phí công ty có phải bồi thường thiệt hại gì cho tôi hay không? Mong nhận được sự tư vấn!

Người gửi: Trần Thị Hương Địa chỉ: Xóm 8, Trung môn Yên Sơn, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 28/03/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 29/03/2019

Chào bạn! BBT Cổng Thông tin điện tử xin tư vấn câu hỏi của bạn như sau:

1. Về chế độ khi bị tai nạn lao động. 

Theo quy định tại khoản 2 Điều 107 Bộ luật Lao động thì: “người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị xong cho người bị tai nạn lao động. Người lao động được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội về tai nạn lao động. Nếu doanh nghiệp chưa tham gia loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc, thì người sử dụng lao động phải trả cho người lao động một khoản tiền ngang với mức quy định trong Điều lệ Bảo hiểm xã hội.”

Về chế độ bảo hiểm xã hội, theo quy định tại Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội về đối tượng áp dụng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong đó bao gồm người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên. Theo những thông tin mà bạn cung cấp thì chúng tôi hiểu là bạn làm việc tại công ty cũng chỉ mang tính chất là đi làm thêm thời vụ với thời hạn hợp đồng dưới 3 tháng do đó bạn sẽ không được hưởng chế độ tai nạn lao động theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội.

Nếu bạn đủ điều kiện để được hưởng chế độ tai nạn lao động theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội mà người sử dụng lao động chưa tham gia loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc thì theo quy định tại khoản 2 Điều 107 Bộ luật Lao động nêu trên người sử dụng lao động phải trả cho người lao động một khoản tiền ngang với mức quy định trong điều lệ bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ và được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 01/2003 ngày 09 tháng 01 năm 2003.

Bạn cần đi giám định mức suy giảm khả năng lao động của mình, về hồ sơ, trình tự, thủ tục trong việc giám định mức suy giảm khả năng lao động bạn có thể tham khảo trong Thông tư 07/2010 của Bộ Y Tế hướng dẫn việc giám định mức suy giảm khả năng lao động của người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

 

Câu hỏi: Xử lý hành vi gây ô nhiễm nguồn nước của gia đình

Cạnh nhà tôi có người hàng xóm nuôi lợn xả thẳng nước thải ra mương gây ô nhiễm giếng nước ăn của gia đình tôi. Xin hỏi việc làm trên có vi pham luật bảo vệ môi trường không? Nếu có tôi phải làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình?

 

Người gửi: Phan Văn Khuyến Địa chỉ: Trung Môn, Huyện Yên Sơn, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 27/03/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 28/03/2019

Chào bạn ! BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Điều 53 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 có quy định về  Yêu cầu về bảo vệ môi trường đối với hộ gia đình như sau:

“1. Hộ gia đình có trách nhiệm thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường sau đây:

a) Thu gom và chuyển chất thải sinh hoạt đến đúng nơi do tổ chức giữ gìn vệ sinh môi trường tại địa bàn quy định; xả nước thải vào hệ thống thu gom nước thải;

b) Không được phát tán khí thải, gây tiếng ồn và tác nhân khác vượt quá tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng đến sức khoẻ, sinh hoạt của cộng đồng dân cư xung quanh;

c) Nộp đủ và đúng thời hạn các loại phí bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật;

d) Tham gia hoạt động vệ sinh môi trường khu phố, đường làng, ngõ xóm, nơi công cộng và hoạt động tự quản về bảo vệ môi trường của cộng đồng dân cư;

đ) Có công trình vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm bảo đảm vệ sinh, an toàn đối với khu vực sinh hoạt của con người;

e) Thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường trong hương ước, bản cam kết bảo vệ môi trường.

2. Thực hiện tốt các quy định về bảo vệ môi trường là một trong những tiêu chí gia đình văn hóa”.

Như vậy, người hàng xóm của nhà bạn nuôi lợn xả thẳng nước thải ra mương gây ô nhiễm giếng nước ăn của gia đình bạn, đó là hành vi vi phạm pháp luật về môi trường. Tuy nhiên, căn cứ vào Nghị định 117/2009/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2009 quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường để xử phạt hành chính về hành vi vi phạm nói trên là rất khó, bởi lẽ, hành vi vi phạm này chưa được thể hiện rõ trong Nghị định nói trên (đặc biệt là tại Điều 14 và Điều 22), cũng như chưa biết được tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi vi phạm trên gây ra. Nhưng bạn hoàn toàn có thể khai báo sự việc nói trên với Ủy ban nhân dân cấp xã và chính quyền đoàn thể về hành vi vi phạm trên để có thể yêu cầu người hàng xóm chấm dứt hành vi vi phạm, bảo vệ sức khỏe cho gia đình bạn./.

 

 

Câu hỏi: Cư trú

Xin hỏi một người đăng ký 2 hộ khẩu có vi phạm gì không?

Người gửi: Đặng Lan Anh Địa chỉ: Tổ 9, Phường Tân Quang, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 27/03/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 28/03/2019

BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Công dân có quyền lựa chọn, quyết định nơi thường trú, tạm trú của mình phù hợp với quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Khi làm thủ tục đăng ký thường trú, công dân được cấp sổ hộ khẩu - Sổ hộ khẩu được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký thường trú và có giá trị xác định nơi thường trú của công dân (khoản 1 Điều 24 Luật Cư trú).

Sau khi đã đăng ký nơi thường trú, một người có thể bị xoá đăng ký thường trú nếu thuộc các trường hợp theo quy định tại Điều 22 Luật Cư trú:

- Chết, bị Toà án tuyên bố là mất tích hoặc đã chết;

- Được tuyển dụng vào Quân đội nhân dân, Công an nhân dân ở tập trung trong doanh trại;

- Đã có quyết định huỷ đăng ký thường trú quy định tại Điều 37 của Luật này;

- Ra nước ngoài để định cư;

- Đã đăng ký thường trú ở nơi cư trú mới; trong trường hợp này, cơ quan đã làm thủ tục đăng ký thường trú cho công dân ở nơi cư trú mới có trách nhiệm thông báo ngay cho cơ quan đã cấp giấy chuyển hộ khẩu để xoá đăng ký thường trú ở nơi cư trú cũ.

Theo quy định nêu trên thì, một người đã đăng ký thường trú ở nơi cư trú mới thì phải xóa đăng ký thường trú ở nơi thường trú trước đây, tức là một người không thể cùng lúc đăng ký thường trú tại hai nơi. Điều 23 Luật Cư trú cũng quy định về trường hợp thay đổi nơi đăng ký thường trú trong trường hợp chuyển chỗ ở hợp pháp như sau:

- Người đã đăng ký thường trú mà thay đổi chỗ ở hợp pháp thì trong thời hạn 24 tháng, kể từ ngày chuyển đến chỗ ở hợp pháp mới có trách nhiệm làm thủ tục thay đổi nơi đăng ký thường trú.

- Cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 21 của Luật này có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện việc thay đổi nơi đăng ký thường trú.

Do vậy việc có hai hộ khẩu là vi phạm quy định của pháp luật về cư trú.

Câu hỏi: Lao động - Tiền lương

Tôi năm nay 60 tuổi, không chồng, không con, hiện vẫn còn làm việc và đóng bảo hiểm xã hội mới được hơn 12 năm. Nếu tôi gặp trường hợp sức khỏe không được tốt và qua đời đột xuất, thì số tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp đóng bao nhiêu năm nay, liệu em trai tôi có được hưởng không? Thủ tục như thế nào?

Người gửi: Lê Thị Hoa Địa chỉ: Phường Minh Xuân, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 27/03/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 28/03/2019

Đối với câu hỏi của bạn, BBT Cổng Thông tin điện tử có một số ý kiến tư vấn như sau:

Do bạn đã tham gia vào bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp nên trong trường hợp bạn bị bệnh qua đời đột xuất thì em trai bạn có thể được hưởng các khoản sau nếu đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật, cụ thể:


1. Chế độ trợ cấp một lần khi chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp:
Trong trường hợp sức khỏe bạn không tốt do bạn đã mắc bệnh nghề nghiệp (bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đối với người lao động) thuộc danh mục bệnh nghề nghiệp do Bộ Y tế ban hành và làm suy giảm khả năng lao động của bạn từ 5% trở lên thì khi bạn bị chết do bệnh này hoặc bị chết trong thời gian điều trị lần đầu do bệnh này hoặc bị chết trong thời gian điều trị bệnh này mà chưa được giám định mức suy giảm khả năng lao động thì thân nhân của bạn sẽ được hưởng trợ cấp một lần bằng 36 lần mức lương cơ sở (Điều 53 Luật an toàn, vệ sinh lao động). Thân nhân người đóng bảo hiểm được xác định bao gồm con đẻ, con nuôi, vợ hoặc chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, cha vợ hoặc cha chồng, mẹ vợ hoặc mẹ chồng của người tham gia bảo hiểm xã hội hoặc thành viên khác trong gia đình mà người tham gia bảo hiểm xã hội đang có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình. Theo đó, nếu em trai bạn là người bạn đang có nghĩa vụ nuôi dưỡng thì sẽ được hưởng khoản tiền này.


2. Trợ cấp mai táng
Do bạn đã tham gia đóng bảo hiểm được hơn 12 năm nên căn cứ theo Điều 66 Luật bảo hiểm xã hội, em trai bạn có thể được nhận một lần trợ cấp mai táng bằng 10 lần mức lương cơ sở tại tháng mà bạn chết, trong trường hợp em trai bạn là người lo mai táng cho bạn.


3. Trợ cấp tuất: 
 Trong trường hợp bạn chết thuộc trường hợp chết do bệnh nghề nghiệp như đã nói ở phần trên thì em trai bạn có thể được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng nếu em trai bạn là người mà bạn đang có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nếu em trai bạn từ đủ 60 tuổi trở lên và phải không có thu nhập hoặc có thu nhập hằng tháng nhưng thấp hơn mức lương cơ sở. Thu nhập này không bao gồm khoản trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công.
Trường hợp em trai bạn dưới 60 tuổi thì phải đáp ứng thêm điều kiện là bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên mới được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng. Trường hợp này em trai bạn phải nộp đơn đề nghị khám giám định mức suy giảm khả năng lao động để hưởng trợ cấp tuất hàng tháng trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày bạn chết. Mức trợ cấp tuất hàng tháng đối với mỗi thân nhân bằng 50% mức lương cơ sở; trường hợp thân nhân không có người trực tiếp nuôi dưỡng thì mức trợ cấp tuất hằng tháng bằng 70% mức lương cơ sở.
Ngoài ra, nếu em trai bạn là người bạn đang có nghĩa vụ nuôi dưỡng không đủ các điều kiển để được hưởng tiền tuất hằng tháng hoặc em trai bạn có nguyện vọng hưởng trợ cấp tuất một lần thì em trai bạn sẽ được hưởng trợ cấp tuấn một lần theo mức được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng bảo hiểm xã hội trước năm 2014; bằng 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho các năm đóng bảo hiểm xã hội từ năm 2014 trở đi; mức thấp nhất bằng 03 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội. Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội làm căn cứ tính trợ cấp tuất một lần thực hiện theo quy định tại Điều 62 của Luật bảo hiểm xã hội.
Để được hưởng các khoản tiền trên, em trai bạn cần lập hồ sơ hưởng chế độ tử tuất cho cơ quan bảo hiểm xã hội. Hồ sơ bao gồm:
1. Sổ BHXH của người đang đóng BHXH, bị chết
2. Giấy chứng tử hoặc giấy báo tử hoặc trích lục khai tử hoặc quyết định tuyên bố là đã chết của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
3. Tờ khai của thân nhân theo mẫu số 09A-HSB (bản chính) (ban hành kèm theo Quyết định số 636/QĐ-BHXH ngày 22/4/2016 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam).
4. Biên bản họp của các thân nhân đối với trường hợp đủ Điều kiện hưởng trợ cấp tuất hàng tháng nhưng chọn hưởng trợ cấp tuất một lần theo mẫu số 16-HSB (bản chính) (ban hành kèm theo Quyết định số 636/QĐ-BHXH); trường hợp chỉ có một thân nhân đủ Điều kiện hưởng trợ cấp tuất hàng tháng hoặc nhiều thân nhân đủ Điều kiện hưởng trợ cấp tuất hàng tháng nhưng chỉ có một người đại diện hợp pháp mà lựa chọn hưởng trợ cấp tuất một lần thì thân nhân lựa chọn hưởng trợ cấp tuất một lần hoặc người đại diện hợp pháp của thân nhân chịu trách nhiệm về việc lựa chọn và không cần biên bản này.
5. Bệnh án Điều trị Bệnh nghề nghiệp.
6. Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng Giám định y khoa đối với thân nhân bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên (bản chính) hoặc Giấy xác nhận khuyết tật mức độ đặc biệt nặng (tương đương mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên) theo quy định tại Thông tư số 37/2012/TTLT-BLĐTBXH-BYT-BTC-BGDĐT trong trường hợp hưởng trợ cấp tuất hàng tháng.
Cơ quan bảo hiểm sẽ có trách nhiệm giải quyết các chế độ cho em trai bạn theo quy định tại Điều 112 Luật bảo hiểm xã hội.

Câu hỏi: Chế độ của bệnh binh khi nghỉ công tác

Tôi đang là bệnh binh 2/3 công tác địa phương là công chức, tham gia công tác 20 năm, đủ tuổi nghỉ chế độ. Vậy khi nghỉ được hưởng chế độ như thế nào?

 

Người gửi: Phan Thanh Bình Địa chỉ: Phường Nông Tiến, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 27/03/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 28/03/2019

 BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời câu hỏi như sau:

Tại khoản 2 Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội quy định: “Người lao có đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Nam đủ sáu mươi tuổi, nữ đủ năm mươi lăm tuổi;”

Như vậy, theo quy định của pháp luật nếu ông đủ tuổi và đủ thời gian tham gia bảo hiểm xã hội thì được hưởng chế độ hưu trí theo quy định nói trên.

Nghị định 105/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 9 năm 2008 của Chính Phủ quy định mức trợ cấp phụ cấp ưu đãi đối người có công với cách mạng nêu rõ từng đối tượng được hưởng phụ cấp trợ cấp tương ứng với mức suy giảm sức khỏe.

Trường hợp của ông nếu ông đủ điều kiện hưởng lương hưu, đồng thời là bệnh binh sẽ được hưởng hai chế độ

Câu hỏi: Lao động - Tiền lương

Xin hỏi người hưởng chế độ tai nạn lao động có được gọi là người hưởng chính sách như thương binh không?

Người gửi: Mai Đức Thành Địa chỉ: Phường Ỷ La, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 26/03/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 27/03/2019

BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời câu hỏi như sau:

1. Người hưởng chính sách như thương binh được quy định tại Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 11 ngày 29/6/2005 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số 04/2012/UBTVQH13 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 13 ngày 01/9/2012.

 Theo đó, người hưởng chính sách như thương binh là: người không phải là quân nhân, công an nhân dân nhưng bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên và thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu;

- Bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh, để lại thương tích thực thể;

- Làm nghĩa vụ quốc tế;

- Đấu tranh chống tội phạm;

- Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân;

- Làm nhiệm vụ quốc phòng an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;

- Khi đang trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ do cơ quan có thẩm quyền giao;

- Trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu hoặc diễn tập phục vụ quốc phòng, an ninh có tính chất nguy hiểm.

Những người trên được cơ quan có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận người hưởng chính sách như thương binh".

2. Người hưởng chế độ tai nạn lao động là người lao động thuộc đối tượng quy định tại Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH11ngày 29/6/2006, bao gồm:

- Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên;

- Cán bộ, công chức, viên chức;

- Công nhân quốc phòng, công nhân công an;

- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân;

- Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn;

Những người trên thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và được hưởng chế độ tai nạn lao động (một trong những chế độ bảo hiểm của bảo hiểm xã hội bắt buộc) theo quy định của bảo hiểm xã hội khi có đủ các điều kiện sau đây: Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc;

- Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động;

- Trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý;

3. Từ những quy định trên về người hưởng chế độ tai nạn lao động và người hưởng chính sách như thương binh thì rõ ràng người hưởng chế độ tai nạn lao động không được gọi là người hưởng chính sách như thương binh.

Câu hỏi: Lao động - Tiền lương

Cho em hỏi: em công tác được hơn 4 năm tại doanh nghiệp nhà nước, nếu em muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì em được giải quyết chế độ như thế nào?

Người gửi: Lê Duy Dương Địa chỉ: Phường Phan Thiết , TP Tuyên Quang Ngày gửi: 26/03/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 27/03/2019

Theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012, khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật, người lao động đã làm việc trong doanh nghiệp từ một năm trở lên được hưởng trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp thất nghiệp nếu đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ một năm trở lên.

Về mức trợ cấp thôi việc, mức trợ cấp này được xác định trên cơ sở thời gian làm việc tại doanh nghiệp quy định tại Điều 48 Bộ luật Lao động 2012 như sau:

“1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. 

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc”.

Cần lưu ý, kể từ ngày 01/01/2009, khi chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động không phải trả trợ cấp thôi việc cho những người lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp. Người lao động sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp căn cứ theo thời gian đóng bảo hiểm, cụ thể như sau:

+ Điều 139 khoản 6 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 quy định: “Thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Luật này không được tính để hưởng trợ cấp mất việc làm hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật về lao động, pháp luật về cán bộ, công chức”.

+ Về điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp, Điều 81 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 quy định:

“Người thất nghiệp được hưởng bảo hiểm thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ mười hai tháng trở lên trong thời gian hai mươi bốn tháng trước khi thất nghiệp;

2. Đã đăng ký thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm xã hội;

3. Chưa tìm được việc làm sau mười lăm ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều này”

+ Về trợ cấp thất nghiệp, Điều 82 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 quy định:

“1. Mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của sáu tháng liền kề trước khi thất nghiệp.

2. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định như sau:

a) Ba tháng, nếu có từ đủ mười hai tháng đến dưới ba mươi sáu tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp;

b) Sáu tháng, nếu có từ đủ ba mươi sáu tháng đến dưới bảy mươi hai tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp;

c) Chín tháng, nếu có từ đủ bảy mươi hai tháng đến dưới một trăm bốn mươi bốn tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp;

d) Mười hai tháng, nếu có từ đủ một trăm bốn mươi bốn tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trở lên.”

Trong câu hỏi của bạn, bạn không nói rõ thời điểm bắt đầu vào làm tại doanh nghiệp và thời điểm bạn bắt đầu đóng bảo hiểm thất nghiệp nên chúng tôi chỉ có thể trả lời như sau:

- Nếu bạn bắt đầu vào làm tại doanh nghiệp trước ngày 01/01/2009 thì: khi bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng (một cách hợp pháp) bạn sẽ được hưởng trợ cấp thôi việc cho khoảng thời gian trước ngày 01/01/2009 và được hưởng trợ cấp thất nghiệp cho thời gian từ ngày 01/01/2009 đến thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động, căn cứ vào thực tế đóng bảo hiểm của bạn.

- Nếu bạn vào làm tại doanh nghiệp sau ngày 01/01/2009, khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ bạn sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp với mức hưởng căn cứ thực tế đóng bảo hiểm thất nghiệp của bạn.

Câu hỏi: Về xây dựng

Xin hỏi trong thời hạn bao lâu kể từ khi ban hành quyết định đình chỉ thi công thì công trình vi phạm bị cưỡng chế phá dỡ?

Người gửi: Lê Khắc Định Địa chỉ: Phường Ỷ La, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 25/03/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 26/03/2019

BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời câu hỏi như sau:

Việc cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm được thực hiện theo quy định tại Điều 24 Nghị định số 180/2007/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Xây dựng về xử lý vi phạm trật tự xây dựng đô thị.

Uỷ ban nhân dân cấp xã ban hành quyết định cưỡng chế phá dỡ và tổ chức phá dỡ sau thời hạn 03 ngày (kể cả ngày nghỉ) kể từ khi ban hành quyết định đình chỉ thi công xây dựng đối với công trình xây dựng không phải lập phương án phá dỡ.

Uỷ ban nhân dân cấp xã ban hành quyết định cưỡng chế phá dỡ và tổ chức phá dỡ sau thời hạn 10 ngày (kể cả ngày nghỉ) kể từ khi ban hành quyết định đình chỉ thi công xây dựng đối với công trình xây dựng phải lập phương án phá dỡ mà chủ đầu tư không tự thực hiện nội dung ghi trong biên bản ngừng thi công xây dựng.

Chủ đầu tư phải chịu toàn bộ chi phí lập phương án phá dỡ và chi phí tổ chức cưỡng chế phá dỡ.

Câu hỏi: Cai nghiện ma túy

Xin hỏi việc lập và thẩm tra hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng được thực hiện như thế nào?

 

Người gửi: Vũ Trọng Phong Địa chỉ: Phường Tân Hà, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 25/03/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 25/03/2019

BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời câu hỏi như sau:

Theo quy định tại Điều 17, Điều 18 Nghị định số 94/2010/NĐ-CP thì thủ tục lập và thẩm tra hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng được thực hiện như sau:

a. Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng

Trưởng Công an xã hoặc tương đương chủ trì lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng gửi Tổ công tác.

Hồ sơ gồm:

- Bản sơ yếu lý lịch của người nghiện ma túy;

- Biên bản hoặc các tài liệu xác nhận tình trạng nghiện ma túy;

- Văn bản của Trưởng Công an xã hoặc tương đương đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng.

b. Thẩm tra hồ sơ:

Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, văn bản đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng của Trưởng Công an xã hoặc tương đương, Tổ công tác có trách nhiệm chuẩn bị tổ chức phiên họp thẩm tra, xét duyệt hồ sơ.

Phiên họp thẩm tra, xét duyệt hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng phải có ít nhất các thành viên sau tham dự: cán bộ phụ trách Lao động - Thương binh và Xã hội, Trưởng Công an, cán bộ Y tế, đại diện Mặt trận Tổ quốc cấp xã và trưởng thôn (hoặc tổ trưởng Tổ dân phố) nơi người nghiện cư trú.

Tổ công tác xem xét và biểu quyết đối với từng trường hợp cụ thể theo nguyên tắc đa số. Trường hợp biểu quyết với số ý kiến bằng nhau thì phải ghi rõ vào biên bản phiên họp trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân quyết định. Biên bản phiên họp thẩm tra, xét duyệt hồ sơ của Tổ công tác phải ghi rõ ý kiến phát biểu của các thành viên tham dự.

Tổ trưởng Tổ công tác làm văn bản đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã kèm theo Biên bản phiên họp thẩm tra, xét duyệt hồ sơ.

Câu hỏi: Bộ đội xuất ngũ có được vay vốn không?

Tôi muốn hỏi: Gia đình tôi thuộc diện khó khăn, tôi là bộ đội xuất ngũ, khi về địa phương tôi muốn hỏi về chính sách hỗ trợ cho bộ đội xuất ngũ vay vốn để làm ăn và học tập.

Người gửi: Phan Thanh Tùng Địa chỉ: An Khang, Yên Sơn , TP Tuyên Quang Ngày gửi: 24/03/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 25/03/2019

Với câu hỏi trên, BTT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời như sau:

- Tại khoản 1 điều 3 Thông tư liên tịch số 04/2010/TTLT-BQP-BTC quy định: “Bộ đội xuất ngũ học nghề ở trình độ trung cấp, cao đẳng được học nghề theo cơ chế đặt hàng đối với các cơ sở dạy nghề theo quy định tại Quyết định số 39/2008/QĐ-TTg ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ; được vay tiền để học nghề theo Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên”.

Tại khoản 2 điều 3 Nghị định 04/2010/TTLT-BQP-BTC quy định về Hỗ trợ bộ đội xuất ngũ học nghề ở trình độ sơ cấp quy định cụ thể như sau:

Bộ đội xuất ngũ học nghề ở trình độ sơ cấp được cấp “Thẻ học nghề” có giá trị tối đa bằng 12 tháng tiền lương tối thiểu tại thời điểm học nghề và có giá trị trong 01 năm kể từ ngày cấp thẻ. Giá trị của “Thẻ học nghề” được điều chỉnh khi Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu.

- Thủ tục cấp “Thẻ học nghề”: Khi quân nhân hoàn thành chế độ phục vụ tại ngũ, có nhu cầu và đăng ký học nghề ở trình độ sơ cấp tại đơn vị được cấp 01 “Thẻ học nghề” (theo mẫu số 1 đính kèm Thông tư này) do Bộ Quốc phòng phát hành có chữ ký đóng dấu của Thủ trưởng đơn vị cấp trung đoàn và tương đương trở lên. “Thẻ học nghề” được nộp cho cơ sở dạy nghề trong và ngoài quân đội”.

Như vậy, bộ đội khi xuất ngũ sẽ được hỗ trợ vay vốn để học nghề.

Câu hỏi: Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi bạo hành trẻ em

Cho em hỏi: Bạo hành trẻ em ở các trường mầm non tư thục sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính như thế nào?

Người gửi: Nguyễn Thế Trưởng Địa chỉ: Nông Tiến , TP Tuyên Quang Ngày gửi: 24/03/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 25/03/2019

BBT Cổng thông tin điện tử xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Khoản 2 Điều 27 Nghị định số 144/2013/NĐ-CP ngày 29/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo trợ, cứu trợ xã hội và bảo vệ, chăm sóc trẻ em quy định như sau:

2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Xâm phạm thân thể, gây tổn hại về sức khỏe đối với trẻ em;
b) Bắt nhịn ăn, nhịn uống, không cho hoặc hạn chế vệ sinh cá nhân; bắt sống ở nơi có môi trường độc hại, nguy hiểm hoặc các hình thức đối xử tồi tệ khác với trẻ em;
c) Gây tổn thương về tinh thần, xúc phạm nhân phẩm, danh dự, lăng nhục, chửi mắng, đe dọa, làm nhục, cách ly, sao nhãng ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em;
d) Dùng các biện pháp trừng phạt để dạy trẻ em làm trẻ em tổn thương, đau đớn về thể xác, tinh thần;
đ) Thường xuyên đe dọa trẻ em bằng các hình ảnh, âm thanh, con vật, đồ vật làm trẻ em sợ hãi, tổn thương tinh thần”.
Ngoài ra, điểm a và điểm b khoản 4 Điều 27 Nghị định số 144/2013/NĐ-CP còn quy định áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả sau:
a) Buộc chịu mọi chi phí để khám bệnh, chữa bệnh (nếu có) cho trẻ em đối với hành vi vi phạm tại Khoản 2 Điều này;
b) Buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe trẻ em đối với hành vi vi phạm tại Điểm đ Khoản 2 Điều này”.
Như vậy, căn cứ quy định trên, bạo hành trẻ em ở các trường mầm non tư thục có thể sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi quy định tại khoản 2 Điều 27 Nghị định số 144/2013/NĐ-CP và buộc chịu mọi chi phí để khám bệnh, chữa bệnh (nếu có) cho trẻ em và buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe trẻ em (đối với trường hợp thường xuyên đe dọa trẻ em bằng các hình ảnh, âm thanh, con vật, đồ vật làm trẻ em sợ hãi, tổn thương tinh thần).

Câu hỏi: Văn hóa, Giáo dục

Xin hỏi theo pháp luật hiện hành, trách nhiệm của người nghiện ma tuý thực hiện các hình thức cai nghiện tại cộng đồng và cai nghiện tại gia đình được quy định như thế nào?

Người gửi: Dương Thị Bích Địa chỉ: Tổ 32, Phường Tân Quang, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 24/03/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 25/03/2019

BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời câu hỏi như sau:

Theo Điều 26 Luật Phòng chống ma túy và Nghị định 94/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 9/9/2010 quy định về tổ chức cai nghiện ma tuý tại cộng đồng thì người nghiện ma túy thực hiện cai nghiện tại cộng đồng và cai nghiện tại gia đình có trách nhiệm sau:

- Tự khai báo về tình trạng nghiện ma túy của mình với cơ quan, tổ chức nơi làm việc hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) nơi cư trú và tự đăng ký hình thức cai nghiện ma túy;

- Chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của nhà nước, tích cực tham gia lao động, học tập, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, quy ước của thôn, làng, ấp, bản, đơn vị dân cư nơi mình cư trú;

- Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định về chuyên môn, kế hoạch cai nghiện cá nhân;

- Hàng tháng phải báo cáo với người được phân công trực tiếp giúp đỡ về tình hình điều trị, cai nghiện, kết quả và sự tiến bộ của mình;

- Phải có mặt khi Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu; nếu vắng mặt mà không có lý do chính đáng, thì Ủy ban nhân dân cấp xã triệu tập đến trụ sở Ủy ban nhân dân yêu cầu làm kiểm điểm về hành vi vi phạm đó;

- Đóng góp chi phí cai nghiện theo quy định.

- Tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về cai nghiện ma túy.

Câu hỏi: Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự

Xin hỏi trong hoạt động tố tụng hình sự, Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong những trường hợp nào?

Người gửi: Đào Thị Nhị Địa chỉ: Hưng Thành, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 23/03/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 24/03/2019

BBT Cổng thông tin điện tử xin trả lời như sau:

Theo quy định tại Điều 18 Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước (TNBTCNN) thì trong hoạt động tố tụng hình sự, Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:
- Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp mà không có căn cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;
- Người bị bắt, người bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự quyết định trả tự do, hủy bỏ quyết định tạm giữ, không phê chuẩn lệnh bắt, quyết định gia hạn tạm giữ vì người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;
- Người bị tạm giam mà có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm;
- Người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, người đã bị kết án tử hình, người đã thi hành án tử hình mà có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm;
- Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án không bị tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù mà có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm;
- Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án, đã chấp hành hình phạt tù mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt chung sau khi tổng hợp hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành;
- Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án và bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm tội bị kết án tử hình và hình phạt chung sau khi tổng hợp hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam vượt quá so với mức hình phạt chung của những tội mà người đó phải chấp hành;
- Người bị xét xử bằng nhiều bản án, Tòa án đã tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đó mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành;
- Pháp nhân thương mại bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi của pháp nhân không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được pháp nhân đã thực hiện tội phạm và pháp nhân đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;
- Cá nhân, tổ chức có tài sản bị thiệt hại do việc thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu, xử lý, có tài khoản bị phong tỏa hoặc cá nhân, tổ chức khác có liên quan đến các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9 Điều 18 Luật TNBTCNN bị thiệt hại.

Câu hỏi: Chính sách ưu đãi cho người có công được quy định như thế nào?

Chính sách ưu đãi người có công được quy định như thế nào, văn bản nào hướng dẫn thi hành chính sách này?

Người gửi: Nguyễn Minh Hồng Địa chỉ: Trung môn, Yên Sơn, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 23/03/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 24/03/2019

Với câu hỏi trên, BBT Cổng thông tin điện tử xin trả lời bạn như sau: ( Câu trả lời mang tính chất tham khảo)

Chính sách ưu đãi người có công được quy định tại Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29 tháng 6 năm 2005.

Đồng thời, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng được quy định và hướng dẫn chi tiết tại các văn bản:

- Nghị định số 54/2006/NĐ-CP ngày 26 tháng 5 năm 2006 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số Điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng;

- Nghị định số 89/2008/NĐ-CP ngày 13 tháng 08 năm 2008;

- Thông tư số 47/2009/TTL-BTC-BLĐTBXH ngày 11 tháng 3 năm 2009  …

Chẳng hạn, tại Thông tư 47/2009/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 11 tháng 3 năm 2009  Thông tư liên tịch của Bộ tài Chính, Bộ Lao động thương binh xã hội hướng dẫn thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng và người trực tiếp tham gia kháng chiến, theo đó, sẽ chi trợ cấp ưu đãi hàng tháng và trợ cấp một lần theo quy định hiện hành cho các đối tượng: thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến; cán bộ đi chiến trường B, C, K trong thời kỳ chống Mỹ không có thân nhân trực tiếp nuôi dưỡng; quân nhân, cán bộ được Đảng cử ở lại miền Nam sau Hiệp định Geneva năm 1954; quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội, đã phục viên về địa phương…

Ngoài khoản trợ cấp nêu trên, những đối tượng này còn được hưởng các khoản ưu đãi như: bảo hiểm y tế; điều trị bồi dưỡng sức khỏe; thuốc đặc trị và điều trị đặc biệt cho thương, bệnh binh; quà tặng của Chủ tịch nước; chi ăn thêm ngày lễ, Tết; hỗ trợ thân nhân liệt sỹ thăm viếng mộ và di chuyển hài cốt liệt sỹ...

Câu hỏi: An ninh quốc phòng, trật tự, an toàn xã hội

Doanh nghiệp sản xuất gây ồn ào tại khu vực dân cư thì bị xử lý thế nào?

Người gửi: Nguyễn Ngọc Linh Lâm Địa chỉ: Tổ 11, Phường Minh Xuân, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 22/03/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 23/03/2019

Với câu hỏi trên, BBT Cổng thông tin điện tử xin trả lời câu hỏi của bạn như sau: 

Theo quy định tại Điều 17 của Nghị định 179/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thì hành vi vi phạm quy định về tiếng ồn được quy định như sau:

“1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi gây tiếng ồn vượt quy chuẩn kỹ thuật về tiếng ồn dưới 5 dBA.

11. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc thực hiện biện pháp giảm thiểu tiếng ồn đạt quy chuẩn kỹ thuật trong thời hạn do người có thẩm quyền xử phạt ấn định trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm quy định tại Điều này gây ra;

b) Buộc chi trả kinh phí trưng cầu giám định, đo đạc và phân tích mẫu môi trường trong trường hợp có vi phạm về tiếng ồn vượt quy chuẩn kỹ thuật môi trường hoặc gây ô nhiễm tiếng ồn theo định mức, đơn giá hiện hành đối với các vi phạm quy định tại Điều này”.

Theo quy định tại Điều 5 của Nghị định số 179 thì mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm hành chính quy định tại Điều 17 nêu trên là mức phạt tiền quy định đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân, mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm hành chính của tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền với cùng hành vi vi phạm hành chính của cá nhân.

Do vậy, tùy mức độ vi phạm, hành vi vi phạm quy định về gây tiếng ồn sẽ bị phạt tiền theo quy định từ khoản 1 đến khoản 9 Điều 17. Ngoài phạt tiền, tổ chức có hành vi vi phạm sẽ bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung theo quy định tại khoản 10 và biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 11. Theo đó, hình thức xử phạt bổ sung chỉ là đình chỉ hoạt động gây ô nhiễm tiếng ồn và đình chỉ hoạt động của cơ sở; biện pháp khắc phục hậu quả là buộc thực hiện biện pháp giảm thiểu tiếng ồn đạt quy chuẩn kỹ thuật, buộc chi trả kinh phí trưng cầu giám định, đo đạc và phân tích mẫu môi trường, mà không có biện pháp khắc phục hậu quả là di dời chỗ khác.

 

Câu hỏi: Ký kết Hợp đồng lao động với người lao động đã nghỉ hưu

Xin hỏi tôi muốn ký hợp đồng ba năm với lao động đã nghỉ hưu làm công việc chuyên môn kỹ thuật có được không?

Người gửi: Nguyễn Hải Anh Địa chỉ: Đường Quang Trung, Phường Tân Quang, TP Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày gửi: 28/03/2019
Câu hỏi: Các chế độ bảo hiểm của người lao động nữ trong thời gian nghỉ thai sản

Xin hỏi :Tôi nghỉ thai sản đúng quy định hiện hành là 04 tháng, có hồ sơ hợp lệ. Vậy tôi có phải đóng bảo hiểm y tế trong 4 tháng nghỉ này không?

Người gửi: Nguyễn Phương Anh Địa chỉ: Tổ 8, Phường Hưng Thành, TP Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử
Ngày gửi: 26/03/2019
Câu hỏi: Câu hỏi chính sách theo Nghị định 116/2010/NĐ-CP

Theo tôi được biết, ngày 28/4/2017 Chính phủ đã ban hành Quyết Định số 582/QĐ-TTg phê duyệt thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016- 2020, xin hỏi: Viên chức trạm khuyến nông huyện được giao phụ trách xã thuộc khu vực III tại Quyết Định số 582/QĐ-TTg có được hưởng chính sách theo nghị định 116/2010 hay không? Xin cám ơn!

Người gửi: Ma Bá Thành Địa chỉ: Trạm khuyến nông huyện Chiêm Hóa
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Nội vụ
Ngày gửi: 23/03/2018
Câu hỏi: Thủ tục giấy phép xây dựng nhà ở

Mảnh đất nhà tôi đang ở ngày trước thuộc quản lý của Rạp Chiếu bóng, giờ bàn giao lại cho UBND huyện (Sơn Dương) quản lý. Trước gia đình tôi mua lại căn nhà của cơ quan và tham gia đóng thuế đất từ trước năm 1990. Hiện nay nhà ở của gia đình tôi xuống cấp nghiêm trọng có thể sụp đổ bất cứ lúc nào. Tôi muốn sửa chữa lại có được không? nếu được cần làm những thủ tục gì?

Mảnh đất đó có đủ điều kiện để cấp sổ đỏ hay không và nếu thu hồi lại, gia đình tôi có được cắm lại chỗ ở mới không?

Tôi xin chân thành cám ơn!

Người gửi: Đinh Gia Huyên Địa chỉ: Tổ dân phố Quyết Thắng, TT. Sơn Dương, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Tài nguyên và Môi trường
Ngày gửi: 21/02/2018
Câu hỏi: Hỏi về làm đường

Tôi là Nguyễn Thị Quý, công dân tổ 40, phường Minh Xuân, thành phố Tuyên Quang. Tôi xin hỏi 1 việc như sau: Tổ 40 là nơi ra đời chi bộ Mỏ Than (chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh). Tuy nhiên con đường Nguyễn Thị Minh Khai, đặc biệt là đường vào ngõ 38 qua khu dân cư nơi đây đã xuống cấp nghiêm trọng gần chục năm nay. Mặt đường ngay phía trước nhà tôi lởm chởm toàn đá, ổ gà. Ngay phía đầu ngõ rẽ từ Tỉnh ủy xuống còn 1 phần taluy bằng đất gò ụ nhô ra dài hàng chục mét che khuất tầm nhìn, nguy hiểm cho người tham gia giao thông. Hơn nữa hai năm trở lại đây trong khu dân cư có nhiều hộ xây, sửa nhà cửa khiến cát sỏi trôi ra đường rất nhiều, phương tiện tham gia giao thông khi tránh nhau thường bị trượt cát loạng choạng mà ngã. Đã có rất nhiều người ngã xe, va chạm giao thông bị thương phải đưa đi sơ cứu tại bệnh viện. 

Người dân trong tổ đã kiến nghị nhiều lần đến cấp có thẩm quyền, và đã nhiều lần được hứa sẽ sớm làm con đường này. Nhân dân trong tổ tin tưởng lời hứa của cấp có thẩm quyền, nhưng mong mỏi từ năm này qua năm khác mà con đường vẫn ngày càng xuống cấp nghiêm trọng. Hôm nay tôi đưa câu hỏi này đến Cổng Thông tin điện tử tỉnh đề nghị được cấp có thẩm quyền trả lời bao giờ thì con đường qua tổ 40 Minh Xuân, nơi ra đời chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh được khởi công xây dựng đáp ứng niềm mong mỏi của nhân dân.

Tôi mong nhận được phản hồi sớm. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Nguyễn Thị Quý Địa chỉ: Tổ 40, phường Minh Xuân, thành phố Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Giao thông vận tải
Ngày gửi: 17/01/2018
Câu hỏi: Việc làm cho sinh viên cử tuyển

Nhờ Ban Biên Tập chuyển lời hộ em. 

Theo NĐ-CP số 134/2006 Tại chương III Điều 11 có ghi rõ về việc tiếp nhận, phân công công tác cho người được cử đi học theo chế độ cử tuyển sau khi tốt nghiệp. Và trong khoản 1 điều 11 có ghi rõ là "Hàng năm, các cơ sở giáo dục gửi danh sách, bàn giao hồ sơ và bằng tốt nghiệp của người học theo chế độ cử tuyển tốt nghiệp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh". Vậy cho em hỏi,  Em là sinh viên trường ĐHXD Hà Nội tốt nghiệp năm 2015 và sau khi ra trường không thấy Sở Giáo dục bàn giao hồ sơ của em cho UBND tỉnh để phân công công tác theo chế độ cử tuyển. Em xin cảm ơn.

Người gửi: Đặng Bùi Anh Đức Địa chỉ: Yên Sơn tuyên quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Nội vụ
Ngày gửi: 15/10/2017
Câu hỏi: Về việc chợ Phan Thiết tràn lan ra đường phố

Từ khi xây dựng lại chợ Phan Thiết (ngay trung tâm thành phố, gần Tỉnh uỷ), bà con tràn ra đường (đường Hồng Thái) buôn bán, rác thải, nước thải vứt ra đầy đường rất mất vệ sinh; những hộ gia đình nằm trong khu vực này, trong đó có gia đình tôi và các tổ 15,7,16,...rất bất tiện trong việc di chuyển, đôi khi còn bị người bán hàng chửi bới, đánh đập vì đi ô tô vào đây.

Vấn đề này tôi cũng đã thấy chính quyền (UBND phường Phan Thiết) có thời gian xử lý, nhưng xử lí không triệt để (cụ thể: không thu hàng hoá của người sai phạm, cho bán hàng nửa bên trong chợ từ khách sạn Thành Trung vào trong nhưng người bán hàng vẫn lấn ná ra ngoài, chỉ thực hiện được 1 thời gian ngắn xong lại đâu vào đấy...).

Vậy tôi xin hỏi trách nhiệm giải tán khu chợ tạm này thuộc về ai hay cơ quan chức năng nào và bao giờ thì xử lí xong?

Đề nghị cơ quan đó có phương án giải tán khu vực trên, xử lí rác thải, nước thải rõ ràng để tình hình cuộc sống của chúng tôi trở lại bình thường.

Tôi xin chân thành cảm ơn các vị lãnh đạo tỉnh đã lắng nghe!

Người gửi: Trần Văn Khải Địa chỉ: Tổ 16, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Thành phố Tuyên Quang
Ngày gửi: 21/09/2017
Câu hỏi: Lập dự toán xây dựng công trình quy mô nhỏ

Tại điểm a khoản 1 Điều 82 Luật xây dựng năm 2014 quy định thẩm quyền thẩm định thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công và dự toán xây dựng: “Đối với công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước: Cơ quan chuyên môn về xây dựng theo phân cấp chủ trì thẩm định thiết kế kỹ thuật, dự toán xây dựng trong trường hợp thiết kế ba bước; thiết kế bản vẽ thi công, dự toán xây dựng trong trường hợp thiết kế hai bước”.

Như vậy, đối với Báo cáo kinh tế - kỹ thuật (thiết kế một bước), Luật Xây dựng năm 2014 không quy định thẩm định thiết kế bản vẽ thi công và dự toán xây dựng.

Các công trình trên địa bàn huyện (UBND huyện là chủ đầu tư) phần lớn là thiết kế một bước (chủ yếu dưới 03 tỷ đồng). Tuy nhiên trong dự toán các công trình (thiết kế 01 bước) lại có chi phí thẩm tra thiết kế và chi phí thẩm tra dự toán. Cho hỏi việc tính chi phí như vậy có đúng không?

Tệp đính kèm: Tải về
Người gửi: Cường Anh Địa chỉ: Na Hang, Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Xây dựng
Ngày gửi: 06/09/2017
Câu hỏi: Chế độ của cử tuyển

Tôi là sinh viên cử tuyển của tỉnh Tuyên Quang, tôi học trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội. Trong quyết định cử tôi đi học từ năm 2004 đến năm 2009 có ghi rõ là sau khi tôi tốt nghiệp ra trường tôi sẽ phải về tỉnh công tác theo sự phân công công tác của Chủ tịch UBND Tỉnh. Tôi muôn hỏi tại sao từ khi tốt nghiệp ra trường đến nay vẫn chưa được phân công công tác?

Tệp đính kèm: Tải về
Người gửi: Ma Thị Chinh Địa chỉ: Xã Yên Thuận - Huyện Hàm Yên - Tỉnh Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Nội vụ
Ngày gửi: 04/08/2017
Lưu ý: Bạn phải nhập đầy đủ, chính xác các thông tin để Ban biên tập thuận lợi trong việc liên lạc, hỗ trợ.
(Các ô có dấu (*) bắt buộc phải nhập dữ liệu)
Mã bảo vệ
Retype the CAPTCHA code from the image
Change the CAPTCHA codeSpeak the CAPTCHA code
 
Hiện nay, do số lượng câu hỏi gửi về BBT Cổng Thông tin điện tử nhiều, vì vậy, BBT chỉ trả lời các câu hỏi có nội dung rõ ràng, ngắn gọn, không sai lỗi chính tả, điền đầy đủ các thông tin và không trùng lặp với các câu hỏi hoặc câu trả lời đã có. Nếu trường hợp nội dung câu hỏi dài thì soạn thảo thành định dạng word và gửi theo file đính kèm. Thời hạn trả lời là 20 ngày (đối với các câu hỏi phải gửi tới các ngành liên quan).

BBT CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH TUYÊN QUANG