Từ khóa:
Câu hỏi: Hỏi về chủ nhà trọ có được phép tăng tiền điện trong thời gian thuê nhà không?

Cho em hỏi!  Em thuê nhà ở, trong hợp đồng thuê nhà thì không ghi giá cả điện nước, nhưng lúc làm hợp đồng em có hỏi chủ nhà cụ thể là tiền điện, nước vẫn tính theo giá nhà nước( là khoảng 1 ngàn mấy/ kw) đúng không ? chủ nhà trả lời vẫn tính như cũ. Vậy mà em thuê mới đc 3 tháng thì chủ nhà lại qua nói tiền điện tăng lên 2.500/kw trong khi hợp đồng chưa hết thời hạn 1 năm, vậy là đúng hay sai vậy ạ? Xin cảm ơn?

Người gửi: Trần Trung Kiên Địa chỉ: Phường Minh Xuân, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 25/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 26/07/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Theo quy định của pháp luật thì việc ký hợp đồng mua điện cho mục đích sinh hoạt đối với trường hợp cho thuê nhà để ở thực hiện như sau:

– Bên bán điện chỉ ký một hợp đồng mua bán điện duy nhất tại mỗi địa chỉ nhà cho thuê. Chủ nhà cho thuê có trách nhiệm xuất trình sổ tạm trú hoặc chứng từ xác nhận tạm trú của cơ quan Công an quản lý địa bàn của người thuê nhà;

– Đối với trường hợp cho hộ gia đình thuê thì chủ nhà trực tiếp ký hợp đồng mua bán điện hoặc ủy quyền cho hộ gia đình thuê nhà ký hợp đồng mua bán điện (có cam kết thanh toán tiền điện), mỗi hộ gia đình thuê nhà được tính một định mức;

-Trong trường hợp cho sinh viên và người lao động thuê nhà (bên thuê nhà không phải là một hộ gia đình): trách nhiệm của bên bán điện là thông báo công khai và cấp định mức cho chủ nhà. Cứ 4 người được tính là một hộ sử dụng điện để tính số định mức áp dụng giá bán lẻ điện sinh hoạt, cụ thể: 1 người được tính là 1/4 định mức, 2 người được tính là 1/2 định mức, 3 người được tính là 3/4 định mức, 4 người được tính là 1 định mức;

– Đối với trường hợp cho sinh viên và người lao động thuê nhà đăng ký tạm trú từ 12 tháng trở lên thì chủ nhà trực tiếp ký hợp đồng mua bán điện hoặc đại diện người lao động hoặc sinh viên thuê nhà ký kết hợp đồng mua bán điện (có cam kết thanh toán tiền điện của chủ nhà). Trường hợp thời hạn thuê nhà dưới 12 tháng thì chủ nhà phải trực tiếp ký hợp đồng mua bán điện;

– Trường hợp người thuê nhà không ký hợp đồng trực tiếp với bên bán điện thì chủ nhà cho thuê có trách nhiệm thu tiền điện của người thuê nhà theo đúng giá bán lẻ điện trong hoá đơn tiền điện hàng tháng do đơn vị bán lẻ điện phát hành cộng thêm 10% cho tổn thất điện năng, chi phí chiếu sáng và bơm nước dùng chung;

– Khi có thay đổi về số người thuê nhà, chủ nhà cho thuê có trách nhiệm thông báo cho bên bán điện để điều chỉnh định mức tính toán tiền điện. Bên bán điện có quyền kiểm tra, yêu cầu bên mua điện xuất trình sổ đăng ký tạm trú hàng tháng để xác định số người tính số định mức khi tính toán hóa đơn tiền điện;

– Trường hợp không thể kê khai được số người thì áp dụng giá bán lẻ điện sinh hoạt của bậc 3: từ 101 – 200 kWh cho toàn bộ sản lượng điện đo đếm được tại công tơ.

Như vậy, trong trường hợp này, bạn không ký hợp đồng trực tiếp với bên bán điện thì chủ nhà cho thuê phải có trách nhiệm thu tiền điện theo đúng giá bán lẻ điện trong hóa đơn hàng tháng do đơn vị bán lẻ điện phát hành cộng thêm 10% cho tổn thất, chi phí thiếu sáng và bơm nước dùng chung. Và bạn có nêu là trong hợp đồng thuê nhà thì không ghi giá cả điện nước, nhưng lúc làm hợp đồng bạnc có hỏi chủ nhà là tiền điện, nước vẫn tính theo giá nhà nước( 1 ngàn mấy/ kw) và chủ nhà đồng ý. Tuy nhiên giữa bạn và chủ nhà không có văn bản gì mà chỉ nói miệng nên không có căn cứ gì để áp dụng việc thỏa thuận giữa bạn và chủ nhà. Do đó, khi bạn thực hiện hợp đồng thuê được 3 tháng, việc chủ nhà thông báo cho bạn tiền điện tăng lên 2.500/kw trong khi hợp đồng chưa hết thời hạn 1 năm cũng không có căn cứ nào đề cập trong hợp đồng thuê nhà là không được tăng giá điện và thỏa thuận giữa hai bên đề cấp giá điện tính như giá cũ cũng không rõ ràng.

Câu hỏi: Hỏi về mua điện thoại mà không biết là đồ cướp giật?

Tôi có cửa hàng điện thoại. Có một người thỉnh thoảng đến bán một cái điện thoại Iphone 4s bị khóa mật khẩu với giá 2.500.000 đồng nhưng bị khóa mật khẩu và nói không nhớ mật khẩu. Hôm sau công an đến nói đó là tang vật vụ cướp. Tôi đã giao nộp cho công an chiếc điện thoại và lên viết tường trình. Tôi có viết là lúc mua không biết điện thoại đó là đồ cướp giật. Sau một thời gian công an gọi lên và trả lại tôi 2.500.000. Công an nói tên cướp khai tôi biết đó là đồ trộm cắp. Vậy cho tôi hỏi khi xét xử tên cướp kia tôi có phải ra tòa với vai trò gì không vì công an đã trả lại cho em 2.500.000 đồng rồi. Tôi xin cảm ơn!

Người gửi: Lương Thị Lan Địa chỉ: Phường Tân Quang , TP Tuyên Quang Ngày gửi: 24/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 25/07/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Theo quy định tại Điều 250 Bộ luật Hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có ” Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm” .

Theo quy định tại Điều luật trên thì:

– Mặt khách quan của tội phạm này thể hiện ở hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ các tài sản do người khác phạm tội mà có như trộm cắp, cướp giật…

– Mặt chủ quan của tội phạm này được thực hiện do lỗi cố ý, có nghĩa là người phạm tội phải biết rõ là tài sản do người khác phạm tội mà có nhưng vẫn chứa chấp, tiêu thụ. Nếu người chứa chấp, tiêu thụ không thể biết được đó là tài sản do phạm tội mà có thì hành vi không cấu thành tội phạm.

Như vậy, nếu bạn biết chiếc điện thoại Iphone 4s bạn đã mua là đồ trộm cắp nhưng vẫn cố tình mua thì đã phạm vào tội này. Bạn sẽ bị Cơ quan điều tra khởi tố với tội danh “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Và sẽ có quyết định khởi tố vụ án gửi đến bạn. Tuy nhiên trách nhiệm chứng minh bạn phạm tội thuộc về Cơ quan điều tra.

Nếu bạn không bị khởi tố về tội nêu trên thì bạn sẽ tham gia vào phiên tòa với tư cách người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bạn sẽ đến phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án. Điều 54 Bộ Luật Tố tụng hình sự quy định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người mà “việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ”.

Câu hỏi: Hỏi về tố giác tội phạm và đòi lại tài sản bị trộm cắp.

Em bị móc túi trên xe buýt  vào ngày 3/4. Vậy nếu lần sau em đi mà có gặp lại người đã lấy của em, vì lúc đó em cảm nhận người đó dựa vào em và nhờ bấm chuông xuống trạm mà em không để ý nên không cảnh giác. Đến khi em xuống trạm thì người đó không xuống cùng) thì em nên làm gì vì em không được bắt giữ. Hoặc nếu trường hợp là người đó bán chiếc điện thoại vào tiệm điện thoại cũ mà em tình cờ thấy, em có giữ lại hóa đơn mua hàng ở Vienthonga, có mã số series trùng khớp thì em nên làm thế nào ạ? Em cảm ơn ạ.

Người gửi: Lê Thị Thơm Địa chỉ: Phường Minh Xuân, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 23/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 24/07/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Thứ nhất, nếu không có bằng chứng cụ thể thì rất khó để tố giác một người về hành vi trộm cắp tài sản. Bạn có quyền tố giác tội phạm và phải chịu trách nhiệm về nội dung tố giác của mình theo quy định tại Điều 101Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định tố giác và tin báo về tội phạm như sau:

“Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

 Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản”

Tuy nhiên, trong trường hợp này, bạn chỉ cho rằng người đó đã trộm điện thoại của bạn mà không có bằng chứng hay bất cứ thông tin nào về người đó nên khi gặp lại người đó bạn cũng không có đủ căn cứ để yêu cầu những lực lượng có thẩm quyền như công an, cảnh sát thực hiện việc bắt giữ để điều tra người đó. Trong trường hợp chứng kiến người đó tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp với người khác, bạn có thể ghi lại bằng chứng và bắt giữ người đó để phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền theo Điều 82 Bộ luật tố tụng hình sự 2003:

“Điều 82. Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã

1. Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt, cũng như người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Uỷ ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản và giải ngay người bị bắt đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

2. Khi bắt người phạm tội quả tang hoặc người đang bị truy nã thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.”

Sau đó, bạn có thể làm bản tường trình về sự việc của bạn xảy ra trước đó để được điều tra và giải quyết. 

Thứ hai, trong trường hợp bạn có căn cứ chắc chắn về chiếc điện thoại bị trộm của mình. Bạn cần trình báo sự việc với cơ quan công an để được can thiệp giải quyết. Trong trường hợp chiếc điện thoại đó được xác định đúng là chiếc điện thoại bạn mua (căn cứ theo hóa đơn mua hàng) và người đang chiếm hữu chiếc điện thoại không đưa ra được các căn cứ chứng minh quyền sở hữu hợp pháp với chiếc điện thoại thì bạn có thể được nhận lại tài sản của mình theo quy định tại Điều 166 Bộ luật dân sự 2015:

“ Điều 166. Quyền đòi lại tài sản

1. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.

2. Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền khác đối với tài sản đó.”

 

Câu hỏi: Hỏi về khi nào nhặt được tiền rơi sẽ thuộc về người nhặt được.

Cho tôi hỏi ! Tôi có được số tiền lớn, tôi được có được sử dụng không và nếu được sử dụng có phải bị đánh thuế hay bất cứ chế tài quy định nào khác? Xin cảm ơn!

Người gửi: Trần Thị Liên Địa chỉ: Phường Phan Thiết, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 22/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 23/07/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Theo quy định tại điều 241 Bộ luật dân sự 2005 quy định về việc Xác lập quyền sở hữu đối với vật do người khác đánh rơi, bỏ quên, thì:

Người nhặt được vật do người khác đánh rơi hoặc bỏ quên mà biết được địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc trả lại vật cho người đó; nếu không biết địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc công an cơ sở gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại.

Uỷ ban nhân dân hoặc công an cơ sở đã nhận vật phải thông báo cho người đã giao nộp về kết quả xác định chủ sở hữu.

Sau một năm, kể từ ngày thông báo công khai về vật nhặt được mà không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận, nếu vật có giá trị đến mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định thì vật đó thuộc sở hữu của người nhặt được; nếu vật có giá trị lớn hơn mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định thì sau khi trừ chi phí bảo quản người nhặt được được hưởng giá trị bằng mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc Nhà nước.

Vật bị đánh rơi, bị bỏ quên là di tích lịch sử, văn hoá mà sau một năm, kể từ ngày thông báo công khai, không xác định được chủ sở hữu hoặc không có người đến nhận thì vật đó thuộc Nhà nước; người nhặt được vật đó được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật.

Câu hỏi: Hỏi về tội trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự?

Cho tôi hỏi:

1. Quy trình để truy tố nam công dân trong tuổi sẵn sàng nhập ngũ mà không thực hiện nghĩa vụ quân sự và trốn tránh nhiều năm?

2. Nếu công dân không nhận giấy triệu tập sơ tuyển sức khỏe tại trạm y tế xã thì sẽ bị xử lý như thế nào? Nếu công dân nhận giấy triệu tập nhưng không đến khám sơ tuyển tại trạm y tế xã thì xử lý như thế nào? Liệu có cho công dân đó tiếp tục khám tuyến huyện được không? Nếu Ban chỉ huy quân sự xã lập biên bản xử lý công dân vắng mặt không đến khám sơ tuyển mà công dân vi phạm không ký vào biên bản thì xử lý như thế nào?

Trân trọng cảm ơn!

Người gửi: Nguyễn Tuấn Anh Địa chỉ: Phường Minh Xuân, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 21/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 22/07/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Việc phạm tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự theo khoản 1 Điều 259 Bộ luật hình sự 1999 là tội phạm ít nghiêm trọng:

“Điều 259. Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự

1. Người nào không chấp hành đúng quy định của pháp luật  về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.”

Quy trình truy tố bị can được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự 2003. Cụ thể, một số Điều trong Bộ luật quy định về truy tố như:

“Điều 163. Đề nghị truy tố

1. Khi có đầy đủ chứng cứ để xác định có tội phạm và bị can thì Cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố. Bản kết luận điều tra trình bày diễn biến hành vi phạm tội, nêu rõ các chứng cứ chứng minh tội phạm, những ý kiến đề xuất giải quyết vụ án, có nêu rõ lý do và căn cứ đề nghị truy tố.

2. Kèm theo bản kết luận điều tra có bản kê về thời hạn điều tra, biện pháp ngăn chặn đã được áp dụng có ghi rõ thời gian tạm giữ, tạm giam, vật chứng, việc kiện dân sự, biện pháp để bảo đảm việc phạt tiền, bồi thường và tịch thu tài sản, nếu có.”

“Điều 166. Thời hạn quyết định truy tố

1. Trong thời hạn hai mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, ba mươi ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra một trong những quyết định sau đây:

a) Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng;

b) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;

c) Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.

Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn, nhưng không quá mười ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; không quá mười lăm ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng; không quá ba mươi ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra một trong những quyết định nêu trên, Viện kiểm sát phải thông báo cho bị can, người bào chữa biết; giao bản cáo trạng, quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án cho bị can. Người bào chữa được đọc bản cáo trạng, ghi chép, sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa theo quy định của pháp luật và đề xuất yêu cầu.

2. Sau khi nhận hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát có quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can. Thời hạn tạm giam không được quá thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Trong trường hợp truy tố thì trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra quyết định truy tố bằng bản cáo trạng, Viện kiểm sát phải gửi hồ sơ và bản cáo trạng đến Tòa án.

4. Trong trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền truy tố của mình, Viện kiểm sát ra ngay quyết định chuyển vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.”

Hành vi không nhận lệnh khám sức khỏe hoặc nhận nhưng không đến khám mà không có lý do chính đáng đều là hành vi trốn tránh nghĩa vụ quân sự. Cụ thể, mức xử phạt với hành vi này quy định tại Khoản 1 Điều 6 Nghị định 120/2013/NĐ-CP:

“Điều 6. Vi phạm quy định về kiểm tra, khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự

1. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với hành vi không có mặt đúng thời gian hoặc địa điểm kiểm tra, khám sức khỏe ghi trong giấy gọi kiểm tra, khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự mà không có lý do chính đáng.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

a) Người khám sức khỏe gian dối làm sai lệch kết quả phân loại sức khỏe của mình nhằm trốn tránh nghĩa vụ quân sự;

b) Đưa tiền hoặc các lợi ích vật chất khác cho cán bộ, nhân viên y tế để làm sai lệch kết quả phân loại sức khỏe của người khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự;

c) Cán bộ, nhân viên y tế cố ý làm sai lệch các yếu tố về sức khỏe của người khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc thực hiện kiểm tra hoặc khám sức khỏe theo kế hoạch của Hội đồng nghĩa vụ quân sự đối với hành vi quy định tại Khoản 1 Điều này;

(…)”

Theo đó, việc khám sức khỏe theo tuyến nào phụ thuộc vào kế hoạch của Hội đồng nghĩa vụ quân sự. Việc không ký vào biên bản xử lý vi phạm của công dân không làm mất tính hợp pháp của biên bản đó nếu có chữ ký của đại diện chính quyền cơ sở hoặc của hai người chứng kiến, căn cứ khoản 2 Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012:

“Điều 58. Lập biên bản vi phạm hành chính

(…)

2. (…)

Trường hợp người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm không có mặt tại nơi vi phạm hoặc cố tình trốn tránh hoặc vì lý do khách quan mà không ký vào biên bản thì biên bản phải có chữ ký của đại diện chính quyền cơ sở nơi xảy ra vi phạm hoặc của hai người chứng kiến.

3. Biên bản vi phạm hành chính phải được lập thành ít nhất 02 bản, phải được người lập biên bản và người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm ký; trường hợp người vi phạm không ký được thì điểm chỉ; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại thì họ cùng phải ký vào biên bản; trường hợp biên bản gồm nhiều tờ, thì những người được quy định tại khoản này phải ký vào từng tờ biên bản. Nếu người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm, người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại từ chối ký thì người lập biên bản phải ghi rõ lý do vào biên bản.

Biên bản vi phạm hành chính lập xong phải giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính 01 bản; trường hợp vi phạm hành chính không thuộc thẩm quyền hoặc vượt quá thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì biên bản phải được chuyển ngay đến người có thẩm quyền xử phạt để tiến hành xử phạt.

Trường hợp người chưa thành niên vi phạm hành chính thì biên bản còn được gửi cho cha mẹ hoặc người giám hộ của người đó.”

Ngoài ra, nếu công dân bị xử phạt không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt thì sẽ bị cưỡng chế thi hành, căn cứ Điều 86 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012:

“Điều 86. Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

1. Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt được áp dụng trong trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt theo quy định tại Điều 73 của Luật này.

2. Các biện pháp cưỡng chế bao gồm:

a) Khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản của cá nhân, tổ chức vi phạm;

b) Kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá;

c) Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính do cá nhân, tổ chức khác đang giữ trong trường hợp cá nhân, tổ chức sau khi vi phạm cố tình tẩu tán tài sản.

d) Buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật này.

3. Chính phủ quy định cụ thể về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.”

 

Câu hỏi: Hỏi về tố cáo hành vi hành hung người khác?

Vợ tôi đang buôn bán thì bị Chị bán gần đó đánh, không biết lý do vì sao. Không bị thương tật nhiều, nay tôi muốn kiện Chị vì tội hành hung người khác có được hay không? Và cách xử phạt là thế nào? Xin chân thành cảm ơn !

Người gửi: Lê Thị Thoa Địa chỉ: Phường Minh Xuân, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 20/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 21/07/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Căn cứ quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự 1999 quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì  lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật  từ  61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

 4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.”

 

Như vậy, vợ bạn bị một người đanh và gây thương tật nhẹ nên trong trường hợp này vợ bạn hoàn toàn có quyền làm đơn khởi kiện người kia có những hành vi vi phạm về tội cố ý gây thương tích cho người khác. Căn cứ vào tỷ lệ thương tật và nguyên nhân dẫn đến hành vi của người kia để xác định trách nhiệm hình sự đối vợi họ.

Trong trường hợp chưa đủ điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự thì người kia có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP:

“2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau;”

Bên cạnh đó, nếu vợ bạn bị thiệt hại thì vợ bạn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Điều 604 Bộ luật dân sự 2005 quy định như sau:

“1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.”

Điều 609 Bộ luật dân sự 2005 quy định thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm:

“1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.”

 

Câu hỏi: Hỏi về tham gia đánh nhau bị phạt như thế nào?

Vừa rồi em có xích mích với một người bạn cùng làng. Hai đứa đã xô xát đánh nhau và bị lập biên bản xử lý vi phạm. Thương tích của hai bên không nặng mà chỉ là thương nhẹ. Công an địa phương nói hai đứa sẽ phải nộp tiền phạt. Vậy em sẽ phải nộp số tiền là bao nhiêu?

Người gửi: Trần Văn Hiệp Địa chỉ: Phường Ỷ La, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 19/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 20/07/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Theo quy định tại Điều 5, Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình thì mức xử phạt được quy định như sau: Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng.

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;

b) Gây mất trật tự ở rạp hát, rạp chiếu phim, nhà văn hóa, câu lạc bộ, nơi biểu diễn nghệ thuật, nơi tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao, lễ hội, triển lãm, hội chợ, trụ sở cơ quan, tổ chức, khu dân cư, trường học, bệnh viện, nhà ga, bến tàu, bến xe, trên đường phố, ở khu vực cửa khẩu, cảng hoặc ở nơi công cộng khác;

c) Thả rông động vật nuôi trong thành phố, thị xã hoặc nơi công cộng.

2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau;

b) Báo thông tin giả đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

c) Say rượu, bia gây mất trật tự công cộng;

d) Ném gạch, đất, đá, cát hoặc bất cứ vật gì khác vào nhà, vào phương tiện giao thông, vào người, đồ vật, tài sản của người khác;

đ) Tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng;e) Để động vật nuôi gây thiệt hại tài sản cho người khác;

g) Thả diều, bóng bay, chơi máy bay, đĩa bay có điều khiển từ xa hoặc các vật bay khác ở khu vực sân bay, khu vực cấm; đốt và thả “đèn trời”;

h) Sách nhiễu, gây phiền hà cho người khác khi bốc vác, chuyên chở, giữ hành lý ở các bến tàu, bến xe, sân bay, bến cảng, ga đường sắt và nơi công cộng khác.

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Tàng trữ, cất giấu trong người, đồ vật, phương tiện giao thông các loại dao, búa, các loại công cụ, phương tiện khác thường dùng trong lao động, sinh hoạt hàng ngày nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác.

b) Lôi kéo hoặc kích động người khác gây rối, làm mất trật tự công cộng;

c) Thuê hoặc lôi kéo người khác đánh nhau;

d) Gây rối trật tự tại phiên tòa, nơi thi hành án hoặc có hành vi khác gây trở ngại cho hoạt động xét xử, thi hành án;

đ) Gây rối trật tự tại nơi tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế;

e) Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác;

g) Lợi dụng quyền tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng để lôi kéo, kích động người khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;

h) Gây rối hoặc cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức;

i) Tập trung đông người trái pháp luật tại nơi công cộng hoặc các địa điểm, khu vực cấm;

k) Tổ chức, tạo điều kiện cho người khác kết hôn với người nước ngoài trái với thuần phong mỹ tục hoặc trái với quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng tới an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

l) Viết, phát tán, lưu hành tài liệu có nội dung xuyên tạc bịa đặt, vu cáo làm ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức, cá nhân;

m) Tàng trữ, vận chuyển “đèn trời”.

4. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ;

b) Sản xuất, nhập khẩu, buôn bán “đèn trời”.

5. Hình thức xử phạt bổ sung:

Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại Điểm g Khoản 2; Điểm a, l, m Khoản 3 và Khoản 4 Điều này.

6. Người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính quy định tại Điểm k Khoản 3 Điều này, thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất khỏi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Như vậy, công an xã sẽ đưa ra mức phạt phù hợp với quy định của pháp luật để xử phạt bạn và người đánh nhau với bạn.

Câu hỏi: Hỏi về phạm tội cố ý gây thương tích cho người khác bị truy cứu như thế nào?

Cho em hỏi. Em có người thân trong lúc say rượu có cãi cọ và xích mích với hàng xóm sảy ra xô sát với 3 cha con người hàng xóm đều trên tuổi vị thành niên. Bên hàng xóm có 1 người bị thương trên mặt là 15% còn người thân của em bị nát xương chân thương tật là 17%. Giờ bên kia họ kiện vậy cho em hỏi có đi tù không và mức án như thế nào. Xin cám ơn ạ?

Người gửi: Phạm Thu Trang Địa chỉ: Phường Minh Xuân, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 18/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 19/07/2019

Hành vi cố ý gây thương tích cho người khác dù trong tình huống người gây thương tích say rượu vẫn được coi là hành vi vi phạm pháp luật theo quy định tại Điều 13 Bộ luật Hình sự 2015 về phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác.

Điều 134 Luật sửa đổi bộ luật hình sự 2017 quy định:

“Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này. ”

 

Theo như bạn trình bày, người thân của chị và người hàng xóm đều thực hiện hành vi có đầy đủ dấu hiệu cấu thành Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác.

Người thân của bạn được xác định thương tích 17% và người hàng xóm được xác định thương tích là 15%, áp dụng khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 thì người thân của bạn và hàng xóm có thể phải nhận mức án phạt là cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Ngoài ra, nếu một trong hai người hoặc cả hai người  thuộc đối tượng của tội phạm quy định tại Khoản 2 điểm c, d, đ Điều này thì một trong hai người hoặc cả hai người có thể nhận mức án là phạt tù từ 02 đến 06 năm.

Câu hỏi: Hỏi về quyền sở hữu đối với gia súc đi lạc?

01 con trâu nhà tôi đi lạc vào bầy trâu nhà người khác, tôi không thông báo cho công an và chính quyền địa phương mà tự ý đi tìm, thì phát hiện con trâu nhà tôi đã bị bán cho một cơ sở giết mổ (hiện con trâu vẫn còn sống). Hiện nay tôi đã biết người bán trâu của gia đình tôi. Vậy cho tôi hỏi người bán trâu của tôi có phạm vào tội gì hay không?

Người gửi: Trần Thanh Nhàn Địa chỉ: Xã Trung Môn, Huyện Yên Sơn, Tỉnh Tuyên Quang Ngày gửi: 17/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 18/07/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Khoản 1 Điều 231 Bộ luật dân sự 2015 quy định về xác lập quyền sở hữu đối với gia súc bị thất lạc như sau:

"Điều 231. Xác lập quyền sở hữu đối với gia súc bị thất lạc

1. Người bắt được gia súc bị thất lạc phải nuôi giữ và báo ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại. Sau 06 tháng, kể từ ngày thông báo công khai hoặc sau 01 năm đối với gia súc thả rông theo tập quán thì quyền sở hữu đối với gia súc và số gia súc được sinh ra trong thời gian nuôi giữ thuộc về người bắt được gia súc.

…"

Theo quy định trên, khi phát hiện ra trâu nhà bạn lạc sang đàn nhà họ, họ phải có nghĩa vụ báo ngay cho Uỷ ban nhân dân cấp xã để thông báo công khai cho bạn. Nếu sau 06 tháng kể từ thời điểm họ thông báo mà bạn không đến nhận gia súc thì họ có quyền sở hữu đối với con trâu đó.

Tuy nhiên, trong trường hợp này, theo như thông tin bạn cung cấp thì người đó không thông báo đến Uỷ ban nhân dân xã mà tự ý mang con trâu đi bán thì đây là hành vi vi phạm pháp luật. Người đó có thể bị xử phạt vi phạm hành chính từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng với hành vi Chiếm giữ trái phép tài sản của người khác theo quy định tại Điểm e) Khoản 2 Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP.

Nếu con trâu đó có giá trị từ mười triệu đồng trở lên thì người bán trâu cho bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội chiếm giữ trái phép tài sản theo quy định tại Điều 141 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009.

Câu hỏi: Hỏi về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

'' Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa đất số 69, diện tích 353m2 tại tổ 11, phường Nông Tiến, Thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. ''

Người gửi: Nguyễn Sỹ Kim Địa chỉ: Tổ 11, Phường Nông Tiến, Thành phố Tuyên Quang, Tỉnh Tuyên Quang Ngày gửi: 17/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Tài nguyên và Môi trường
Ngày trả lời: 24/07/2019

Sở Tài nguyên và Môi trường trả lời ông Nguyễn Sỹ Kim như sau:

Việc khởi kiện của ông đối với Quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND thành phố Tuyên Quang tại thửa đất số 69, tờ bản đồ 28 mang tên bà Tạ Thị Bảy đã được Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang thụ lý, giải quyết tại Bản án số 02/2018/HC-ST ngày 06/02/2018.

Hiện nay Ông Nguyễn Sỹ Kim và bà Đào Thị Duẩn đang kháng cáo bản án nêu trên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội. Vì vậy nội dung đề nghị của ông sẽ được cơ quan tòa án giải quyết theo luật định.

Sở Tài nguyên và Môi trường trân trọng có ý kiến ./.  

Câu hỏi: Hỏi về trẻ bị câm điếc bẩm sinh thì được hưởng những chế độ gì?

Con gái tôi bị câm điếc bẩm sinh mức độ nặng hiện nay cháu được hưởng 500.000đ/tháng. Năm nay cháu 6 tuổi bắt đầu vào lớp 1, vậy xin hỏi quý cơ quan cho biết cháu có được miễn giảm học phí không? ngoài ra cháu còn được hưởng những khoản gì nữa không?

Người gửi: Nguyễn Tuấn An Địa chỉ: Phường Minh Xuân, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 16/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 17/07/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

– Căn cứ Điều 6 Nghị định 86/2015/NĐ-CP quy định về đối tượng không phải đóng học phí như sau:

“Điều 6. Đối tượng không phải đóng học phí

Đối tượng không phải đóng học phí tại các cơ sở giáo dục công lập bao gồm: Học sinh tiểu học; Học sinh, sinh viên sư phạm; Người học các ngành chuyên môn đặc thù đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh theo quy định của Luật Giáo dục đại học.”

– Căn cứ Điều 7 Nghị định 86/2015/NĐ-CP quy định về đối tượng được miễn học phí như sau:

“Điều 7. Đối tượng được miễn học phí

1. Người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng theo Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29 tháng 6 năm 2005, Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 ngày 16 tháng 7 năm 2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng.

2. Trẻ em học mẫu giáo và học sinh, sinh viên bị tàn tật, khuyết tật có khó khăn về kinh tế.

3. Trẻ em học mẫu giáo và học sinh dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng quy định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.

Người từ 16 tuổi đến 22 tuổi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội mà đang học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất.

4. Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.

5. Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông là con của hạ sĩ quan và binh sĩ, chiến sĩ đang phục vụ có thời hạn trong lực lượng vũ trang nhân dân.

6. Học sinh, sinh viên hệ cử tuyển (kể cả học sinh cử tuyển học nghề nội trú với thời gian đào tạo từ 3 tháng trở lên).

7. Học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú, trường dự bị đại học, khoa dự bị đại học.

8. Học sinh, sinh viên học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.

9. Sinh viên học chuyên ngành Mác – Lê nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh.

10. Học sinh, sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh các chuyên ngành: Lao, Phong, Tâm thần, Giám định pháp y, Pháp y tâm thần và Giải phẫu bệnh.

11. Học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số rất ít người ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.

12. Sinh viên cao đẳng, đại học, học viên cao học, nghiên cứu sinh học các chuyên ngành trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.

13. Người tốt nghiệp trung học cơ sở học tiếp lên trình độ trung cấp.

14. Người học các trình độ trung cấp, cao đẳng, đối với các ngành, nghề khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu theo danh mục do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp ở Trung ương quy định.

15. Người học các ngành chuyên môn đặc thù đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp.”

Như vậy, học sinh tiểu học là đối tượng không phải đóng học phí nên con bạn sẽ đương nhiên không phải đóng học phí; ngoài ra trường hợp con bạn là học sinh bị khuyết tật, có khó khăn về kinh tế thì thuộc đối tượng được miễn học phí theo quy định tại Điều 7 Nghị định 86/2015/NĐ-CP quy định về đối tượng được miễn học phí nêu trên. Ngoài ra sẽ được hưởng các chính sách hỗ trợ tại trường mà bé theo học.

– Căn cứ Điều 3  Luật người khuyết tật năm 2010 quy định về dạng tật và mức độ khuyết tật như sau:

“Điều 3. Dạng tật và mức độ khuyết tật

1. Dạng tật bao gồm:

a) Khuyết tật vận động;

b) Khuyết tật nghe, nói;

c) Khuyết tật nhìn;

d) Khuyết tật thần kinh, tâm thần;

đ) Khuyết tật trí tuệ;

e) Khuyết tật khác.

2. Người khuyết tật được chia theo mức độ khuyết tật sau đây:

a) Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;

b) Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;

c) Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này.”

– Căn cứ Điều 44 Luật người khuyết tật năm 2010 quy định về trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc khách hàng như sau:

“Điều 44. Trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng

1. Đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng bao gồm:

a) Người khuyết tật đặc biệt nặng, trừ trường hợp quy định tại Điều 45 của Luật này;

b) Người khuyết tật nặng.

2. Đối tượng được hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng bao gồm:

a) Gia đình có người khuyết tật đặc biệt nặng đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc người đó;

b) Người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng;

c) Người khuyết tật quy định tại khoản 1 Điều này đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

3. Người khuyết tật quy định tại khoản 1 Điều này là trẻ em, người cao tuổi được hưởng mức trợ cấp cao hơn đối tượng khác cùng mức độ khuyết tật.

4. Mức trợ cấp xã hội hàng tháng, mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng đối với từng loại đối tượng theo quy định tại Điều này do Chính phủ quy định.”

Như vậy, tuỳ thuộc vào mức độ khuyết tật của con bạn mà có mức hưởng trợ cấp xã hội tương đương. Ngoài mức hưởng trợ cấp xã hội mà con bạn đang được hưởng thì các khoản trợ cấp khác phải tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể.

Câu hỏi: Hỏi về nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da cam thì được hưởng chế độ ưu đãi như thế nào?

Cho tôi hỏi: Tôi và vợ là nạn nhân chất độc da cam, di chứng từ mẹ và bố vợ tôi quê ở Thanh Hóa. Hiện nay, tôi đang cư trú trên địa bàn Tỉnh Tuyên Quang đã có sổ KT3 hơn 5 năm. Con tôi đi học ở trường tiểu học trên địa bàn. Tôi làm đơn xin phường xác nhận vợ chồng tôi là con em nạn nhân chất độc da cam và có giấy chứng nhận con em nạn nhân chất độc da cam từ địa phương kèm theo nhưng cán bộ phường bảo trường hợp của tôi phường không xác nhận vì không đúng quy định như vậy có đúng không?Vậy vợ chồng tôi là nạn nhân chất độc da cam sống trên địa bàn đã có sổ KT3 có được quyền lợi gì ở không?

Người gửi: Phan Thanh Bình Địa chỉ: Phường Ỷ La, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 15/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 16/07/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Trường hợp mẹ bạn và cha vợ bạn là người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học thì UBND phường nơi bạn cư trú không phải là nơi có thẩm quyền xác định công nhận nhân thân mà phải là những cơ quan quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 7 Nghị định 31/2013/NĐ-CP:

Điều 7. Thủ tục hồ sơ

1. Cá nhân có trách nhiệm:

a) Viết bản khai về quá trình hoạt động cách mạng có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú; trường hợp người hoạt động cách mạng đã hy sinh, từ trần thì đại diện thân nhân hoặc người thờ cúng lập bản khai kèm biên bản ủy quyền;

b) Gửi bản khai kèm theo một trong các giấy tờ, tài liệu quy định tại Điều 6 của Nghị định này đến các cơ quan sau để công nhận:

Ban thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy trực thuộc trung ương xem xét, quyết định đối với người hoạt động cách mạng thuộc cấp ủy địa phương quản lý;

Ban đảng, Ban Cán sự đảng, Đảng đoàn, Đảng ủy trực thuộc trung ương xem xét, quyết định đối với người hoạt động cách mạng thuộc bộ, ban, ngành, đoàn thể trung ương quản lý;

Tổng cục Chính trị xem xét, quyết định đối với người hoạt động cách mạng thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam;

Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân xem xét, quyết định đối với người hoạt động cách mạng thuộc Công an nhân dân.”

Vợ chồng bạn có thể được hưởng trợ cấp căn cứ Điều 45 Nghị định 31/2013/NĐ-CP nếu vợ chồng bạn có dị dạng, dị tật cần phương tiện trợ giúp và dụng cụ chỉnh hình hoặc suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, việc có sổ KT3 không làm phát sinh thêm chế độ ưu đãi hay quyền lợi gì đối với vợ chồng bạn:

“Điều 45. Chế độ ưu đãi đối với con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học

1. Trợ cấp hàng tháng

Mức 1: Suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên, mức trợ cấp bằng một lần mức chuẩn.

Mức 2: Suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%, mức trợ cấp bằng 0,6 lần mức chuẩn.

Thời điểm hưởng trợ cấp từ ngày Hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền kết luận.

2. Cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình cần thiết căn cứ vào tình trạng dị dạng, dị tật.

3. Khi con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo quy định tại Khoản 1 Điều này chết thì người tổ chức mai táng được hưởng mai táng phí; đại diện thân nhân được hưởng trợ cấp một lần bằng ba tháng trợ cấp ưu đãi.”

Trường hợp mẹ bạn và cha vợ bạn không phải là người hoạt động kháng chiến thì vợ chồng bạn nếu bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn thì phải căn cứ Luật người khuyết tật 2010 để xem xét chế độ ưu đãi.

Câu hỏi: Hỏi về như thế nào được gọi là người khuyết tật?

Cho em hỏi pháp luật quy định người như thế nào được gọi là người khuyết tật? Em cảm ơn!

Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn Địa chỉ: Trung Môn, Yên Sơn, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 14/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 15/07/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Người khuyết tật 2010 quy định:

“1. Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”

Như vây, người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn. Người khuyết tật bao gồm cả những người. Tại Điều 3 Luật Người khuyết tật 2010 quy định về Dạng tật và mức độ khuyết tật

“1. Dạng tật bao gồm:

a) Khuyết tật vận động;

b) Khuyết tật nghe, nói;

c) Khuyết tật nhìn;

d) Khuyết tật thần kinh, tâm thần;

đ) Khuyết tật trí tuệ;

e) Khuyết tật khác.

2. Người khuyết tật được chia theo mức độ khuyết tật sau đây:

a) Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;

b) Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;

c) Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này”

Như vậy, Pháp luật đã có quy định rõ ràng về người như thế nào thì được coi là người khuyết tật

Câu hỏi: Hỏi về hành vi sử dụng chứng minh thư nhân dân cũ để lừa đảo

Tôi có một cửa hàng cho thuê áo dài và thường xuyên phải yêu cầu khách hàng để lại chứng minh thư nhân dân. Nhưng dạo gần đây, một vài người đến thuê áo dài đã sử dụng chứng minh thư cũ, được cấp từ năm 1990 hay 1995 vả rồi không quay trở lại trả áo. Mong quý cơ quan có thể tư vấn giúp tôi xem, hành vi này của họ sẽ bị xử lý như thế nào? Và tôi có được bồi thường những chiếc áo dài bị mất hay không?  Xin cảm ơn!

Người gửi: Phạm Quỳnh Anh Địa chỉ: Phường Tân Quang, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 13/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời:

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Theo quy định tại Điều 2, Nghị định 05/1999/NĐ-CP ngày 3 tháng 2 năm 1999 của Chính phủ được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định 170/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2007 của Chính phủ thì giá trị sử dụng của chứng minh thư nhân dân chỉ dừng lại trong khoảng thời gian 15 năm kể từ ngày cấp. Vì vậy, trong trường hợp những chứng minh thư nhân dân được cấp từ những năm 1990 hay 1995 thì cho đến thời điểm hiện tại là năm 2015 đều hết giá trị sử dụng. Vì vậy, những người đứng tên trên chứng minh thư nhân dân đó không được xuất trình khi tham gia vào bất cứ các quan hệ dân sự hay kinh tế nào khác.

Theo đó, theo quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 9, Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 thì họ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với mức phạt từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng do đã có hành vi sử dụng chứng minh thư nhân dân của người khác để thực hiện vi phạm pháp luật, cụ thể ở đây là việc lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của bạn. Trong trường hợp số áo dài của bạn cho thuê có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên thì họ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 139, Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung 2009.

Nếu như trong trường hợp họ sử dụng trực tiếp chứng minh thư nhân dân đã hết giá trị sử dụng của mình để thực hiện việc thuê áo dài của bạn thì bạn có thể căn cứ vào những thông tin nhân thân của người đó để có thể đòi lại tài sản cho mình, còn trong trường hợp họ sử dụng chứng minh thư nhân dân của người khác thì rất khó để xác định được chủ thể đã thực hiện hành vi nói trên.

Câu hỏi: Hỏi về có được bán cây tài lộc làm bằng tiền thật không?

Cho tôi hỏi! Hiện tại gần đến Tết Nguyên Đán, tôi có thấy rất nhiều cửa hàng, cá nhân làm cây tài lộc bằng tiền thật, bán giá rất cao, tôi cũng đang có ý định làm để kinh doanh, vậy nếu làm cây tài lộc để mua bán như vậy có vi phạm pháp luật không? 

Người gửi: Nguyễn Trung Quân Địa chỉ: Phường Phan Thiết, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 12/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 13/07/2019

Tiền Việt Nam được hiểu gồm: tiền giấy, tiền kim loại do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước) phát hành theo quy định Quyết định số 130/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/6/2003 cá nhân, tổ chức bị nghiêm cấm thực hiện các hành vi bao gồm:

+  Làm tiền giả, vận chuyển, tàng trữ, lưu hành, mua, bán tiền giả.

+  Hủy hoại tiền Việt Nam bằng bất kỳ hình thức nào.

+  Sao chụp tiền Việt Nam với bất kỳ mục đích nào không có sự chấp thuận trước bằng văn bản của Ngân hàng Nhà nước.

+  Từ chối nhận, lưu hành đồng tiền do Ngân hàng Nhà nước phát hành trong lãnh thổ Việt Nam.

Trước tiên phải xác định khi làm một cây tài lộc bằng tiền và sử dụng tiền để cắt, tỉa hay không, phải tạo mẫu hình hoa hay không. Nếu như có những hành vi này sẽ rơi vào trường hợp cấm đó là hủy hoạy tiền Việt Nam. Theo quy định của Nghị định 96/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2014.

“3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi phá hoại, hủy hoại tiền Việt Nam trái pháp luật.”

Tuy nhiên, xét ở một góc độ khác, nếu như người làm ra những cây tài lộc này không có bất kỳ hành vi hủy hoại nào, sử dụng những đồng tiên không sử dụng nữa (tiền giấy giá trị 10.000 đồng, 20.000 đồng…) thì có bị xử phạt không?

Chế tài xử lý vi phạm hành chính áp dụng cho hành vi hủy hoại, phải thực hiện hành vi hủy hoại bằng bất kỳ hình thức nào thì mới bị xử phạt. Theo đó, nếu trong trường hợp bên bạn có làm cây tài lộc nhưng không hủy hoại đồng tiền thì cơ quan có thẩm quyền cũng không có căn cứ để xử phạt.

Câu hỏi: Hỏi về giao xe cho người khác gây tai nạn có phải chịu trách nhiệm không? Thời hạn tạm giữ phương tiện vi phạm hành chính là bao lâu ?

Chào anh/chị, cho em hỏi, hôm nay em có cho bạn mượn xe máy. Bạn em đang đi trên đoạn đường thẳng thì có một chị đi từ nơi làm việc bị bạn em đâm vào.Bạn em đã đưa chị ấy đi khám, sức khỏe không có vấn đề gì. Nhưng hiện tại xe máy của em đang bị giữ, cho em hỏi em bị chịu trách nhiệm gì hay không?

Người gửi: Trần Thị Oanh Địa chỉ: Phường Minh Xuân, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 11/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời như sau:

Căn cứ Điều 205 Bộ luật hình sự 1999 quy định Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ như sau:

"1. Người nào điều động hoặc giao cho người không có giấy phép hoặc bằng lái xe hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.''

Điều 5 Thông tư liên tịch 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ như sau:

''1. Người không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 205 Bộ luật hình sự là người không am hiểu các quy định về trật tự, an toàn giao thông đường bộ; người không đủ sức khỏe, độ tuổi để điều khiển phương tiện; người do tình trạng sức khỏe không thể tự chủ điều khiển được tốc độ; người đang trong tình trạng say do sử dụng ma túy, rượu, bia hoặc các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng ma túy, rượu, bia. 

2. Khi áp dụng Điều luật này cần chú ý: 

Trường hợp người được điều động biết mình không có đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vẫn thực hiện theo sự điều động thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo Điều 202 Bộ luật hình sự nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác của cấu thành tội phạm này. Trường hợp người được điều động đã đề đạt, từ chối thực hiện nhiệm vụ được giao nhưng vẫn phải chấp hành sự điều động đó thì họ không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm theo quy định tại Điều 202 Bộ luật hình sự.''

Như vậy, bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 205 Bộ luật hình sự 1999 khi bạn giao cho hai người bạn của bạn mà hai người này không có giấy phép hoặc bằng lái xe hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác.

Nếu không đủ căn cứ thì bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. 

* Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau:

''1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.''

Theo quy định trên, ai là người gây ra tai nạn giao thông sẽ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Do đó, phải xác minh rõ nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

* Thời hạn tạm giữ phương tiện vi phạm hành chính:

Khoản 8 Điều 125 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định về việc Tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính như sau:

''8. Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề là 07 ngày, kể từ ngày tạm giữ. Thời hạn tạm giữ có thể được kéo dài đối với những vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần tiến hành xác minh nhưng tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày tạm giữ tang vật, giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

Đối với vụ việc thuộc trường hợp quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 66 của Luật này mà cần có thêm thời gian để xác minh thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn việc tạm giữ; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày.

Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề được tính từ thời điểm tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ thực tế.

Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề không vượt quá thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 66 của Luật này, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này.''

Như vậy, bạn sẽ bị tạm giữ phương tiện 7 ngày, nếu cần xác minh thì kéo dài không quá 30 ngày. Nếu cần thêm thời gian xác minh thì có thể gia hạn thêm 30 ngày. Xe của bạn có thể bị tạm giữ tối đa là 60 ngày, hết thời hạn tạm giữ cơ quan có thẩm quyền phải trả lại xe cho bạn.

Câu hỏi: Hỏi về lỗi không có, không mang giấy phép lái xe phạt bao nhiêu tiền?

Cho em hỏi lỗi không có, không mang giấy phép lái xe phạt bao nhiêu tiền? Không mang giấy tờ xe có bị coi là không có giấy tờ xe không? Thời gian để cung cấp giấy tờ xe là bao lâu? Rất mong nhận được câu trả lời ạ!

Người gửi: Phan Danh Tùng Địa chỉ: Phường Nông Tiến, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 09/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 10/07/2019

Hiện nay, quy định về việc mang theo Giấy phép lái xe khi tham gia giao thông và mức xử phạt khi không có hoặc không mang Giấy phép lái xe được quy định cụ thể tại Luật Giao thông đường bộ năm 2008Nghị định 46/2016/NĐ-CP. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, quy định về Giấy phép lái xe.

Hiện nay, trong quy định của pháp luật hiện hành không có định nghĩa cụ thể về khái niệm Giấy phép lái xe, tuy nhiên căn cứ vào khái niệm được thể hiện tại Bách khoa toàn thư mở online (Wikipedia) có thể hiểu rằng Giấy phép lái xe (Bằng lái xe) được hiểu là một loại giấy phép/ chứng chỉ mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho một cá nhân cụ thể khi họ đã đáp ứng các điều kiện về độ tuổi, sức khỏe, kiến thức và đã hoàn thành kỳ thi sát hạch lái xe theo quy định của pháp luật. Giấy phép lái xe như là một loại chứng chỉ để ghi nhận và xác định một người đã đáp ứng những điều kiện cơ bản theo quy định của pháp luật để có thể điều khiển, vận hành, tham gia giao thông và lưu thông một loại phương tiện cơ giới như xe máy, xe mô tô, xe gắn máy, xe hơi, xe tải… trên đường.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, cụ thể Điều 59 Luật giao thông đường bộ năm 2008, Chương I Phần II Thông tư 12/2017/TT-BGTVT, Giấy phép lái xe được phân thành nhiều hạng khác nhau như hạng A1, A2, A3, A4, B1, B2, C, D, E, FB2, FD, FE… phân làm hai nhóm Giấy phép lái xe không thời hạn và giấy phép lái xe có thời hạn, phù hợp với từng kiểu loại, công suất động cơ, công dụng và tải trọng của xe cơ giới, cũng như những yêu cầu về kỹ năng phù hợp với từng loại xe cơ giới khác nhau. Mỗi loại Giấy phép lái xe được cấp cho các đối tượng phù hợp với độ tuổi, trình độ đào tạo và kết quả kỳ sát hạch Giấy phép lái xe cùng các điều kiện khác của cá nhân đó phù hợp với loại phương tiện mà người cá nhân điều khiển.

Cùng với các giấy tờ khác của phương tiện như Đăng ký xe, Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới (áp dụng cho một số loại xe cơ giới như xe ô tô, xe rơ moóc, sơ mi rơ moóc…) thì theo quy định tại Điều 58 Luật giao thông đường bộ năm 2008, Giấy phép lái xe là một trong những loại giấy tờ mà người lái xe bắt buộc phải mang theo khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Nếu người lái xe không mang hoặc không có Giấy phép lái xe phù hợp với loại xe đang điều khiển hoặc các giấy tờ theo quy định nêu trên khi tham gia giao thông đường bộ thì họ có thể bị xử phạt theo quy định tại Nghị định 46/2016/NĐ-CP

Thứ hai, mức xử phạt hành chính áp dụng với lỗi không có Giấy phép lái xe khi tham gia giao thông.

Như đã phân tích, việc mang theo Giấy phép lái xe khi tham gia giao thông là một quy định bắt buộc, thể hiện điều kiện tham gia giao thông của người lái xe, điều khiển phương tiện giao thông. Tuy nhiên trên thực tế, có những người chưa đáp ứng điều kiện về độ tuổi hoặc chưa qua đào tạo, sát hạch lái xe để được cấp Giấy phép lái xe phù hợp với phương tiện giao thông đang điều khiển nên không có Giấy phép lái xe phù hợp để mang theo khi tham gia giao thông. Trường hợp này, căn cứ theo quy định tại Điều 21 Nghị định 46/2016/NĐ-CP, tùy thuộc vào loại xe mà người này điều khiển là xe máy, xe mô tô, xe gắn máy hay xe ô tô, máy kéo hay loại xe nào khác thì người này sẽ bị xử phạt với lỗi không có giấy phép lái xe với mức xử phạt cụ thể như sau:

  • Đối với xe mô tô và các loại xe tương tự xe mô tô:

Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 5, điểm b khoản 7 Điều 21 Nghị định 46/2016/NĐ-CP thì đối với người điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh dưới 175 cm3 và các loại xe tương tự mô tô không có Giấy phép lái xe thì sẽ bị xử phạt với mức tiền phạt từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng. Còn đối với người điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 175 cm3 trở lên mà không có Giấy phép lái xe phù hợp thì sẽ bị xử phạt với mức tiền phạt từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng.

  • Đối với xe ô tô, xe máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô:

Đối với người điều khiển xe ô tô, xe máy và các loại xe tương tự xe ô tô không có Giấy phép lái xe ô tô phù hợp với phương tiện đang điều khiển thì căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 7 Điều 21 Nghị định 46/2016/NĐ-CP, người này sẽ bị xử phạt hành chính với mức phạt từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng.

Ngoài việc xử phạt đối với người điều khiển phương tiện không có Giấy phép lái xe khi tham gia giao thông, không đáp ứng điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 58 Luật giao thông đường bộ năm 2008 thì người chủ phương tiện có hành vi giao xe hoặc để cho người không có Giấy phép lái xe phù hợp với loại xe tham gia giao thông đường bộ cũng bị xử phạt hành chính theo quy định tại điểm đ, khoản 4, điểm đ khoản 7 Điều 30 Nghị định 46/2016/NĐ-CP với mức phạt tiền như sau:

  • Đối với phương tiện là xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự mô tô thì chủ phương tiện nếu là cá nhân bị phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng, nếu là tổ chức thì bị phạt với mức từ 1.600.000 đồng đến 2.000.000 đồng.
  • Đối với phương tiện là xe ô tô, xe máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thì chủ phương tiện nếu là cá nhân sẽ bị phạt từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng, nếu là tổ chức thì bị phạt từ 4.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng.

Thứ ba, mức xử phạt hành chính áp dụng với lỗi không mang theo Giấy phép lái xe khi tham gia giao thông.

Không mang theo Giấy phép lái xe được hiểu là việc người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mặc dù có Giấy phép lái xe phù hợp với phương tiện mà họ đang điều khiển nhưng cố tình hoặc vô ý không mang theo (ví dụ do để quên, do vội…) nên đã không xuất trình được Giấy phép lái xe tại thời điểm cơ quan có thẩm quyền kiểm tra.

Cũng tương tự như trường hợp không có Giấy phép lái xe, thì đối với người điều khiển không mang theo Giấy phép lái xe khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông, họ cũng sẽ bị xử phạt hành chính vì không đáp ứng điều kiện điều khiển phương tiện cơ giới tham gia giao thông.

Về vấn đề này, căn cứ theo quy định tại Điều 21 Nghị định 46/2016/NĐ-CP thì mức xử phạt đối với lỗi không mang theo Giấy phép lái xe khi tham gia giao thông đường bộ được xác định như sau:

– Đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, và các loại xe tương tự xe mô tô, xe gắn máy không mang theo Giấy phép lái xe thì sẽ bị xử phạt theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 21 Nghị định 46/2016/NĐ-CP với mức phạt tiền từ 80.000 đồng đến 120.000 đồng.

– Đối với người điều khiển xe ô tô, xe máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô không mang theo Giấy phép lái xe thì căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 21 Nghị định 46/2016/NĐ-CP, họ sẽ bị xử phạt với mức phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng.

Như vậy, Giấy phép lái xe là một trong những giấy tờ quan trọng mà người điều khiển phương tiện cần phải mang theo khi tham gia giao thông. Giấy tờ này là một trong căn cứ để cơ quan có thẩm quyền kiểm tra và xác định về điều kiện tham gia giao thông của người điều khiển phương tiện cơ giới đường bộ. Do vậy, người điều khiển phương tiện tham gia giao thông cần nghiêm chỉnh chấp hành việc mang theo đầy đủ các loại giấy tờ theo quy định của pháp luật.

Câu hỏi: Hỏi về vô ý va vào đuôi xe tải có phải bồi thường không?

Tôi lái xe gắn máy, vô ý va vào đuôi của một chiếc xe tải. Tôi bị thương ở chân (lột da bắp chân). Còn chiếc  xe tải gần như không sao cả.Tôi muốn hỏi là tôi vi phạm luật gì và có phải bồi thường không? Tài xế xe tải có phải chịu trách nhiệm thuốc thang cho tôi không?

Người gửi: Phạm Thị Lan Địa chỉ: Phường Tân Hà, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 08/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 09/07/2019

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận BBT Cổng thông tin điện tử. Nội dung câu hỏi của bạn đã được Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Theo quy định tại Điều 601 Bộ luật dân sự 2015 thì:

"Điều 601. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật.

2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

3. Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây:a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.Khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại."

Như vậy, trong trường hợp này người gây ra vụ tai nạn giao thông phải bồi thường thiệt hại vì người đó đang điều khiển phương tiện giao thông vận tải thuộc trường hợp quy định tại Điều 601 Bộ luật dân sự 2015 nêu trên.

Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường bao gồm:

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại

- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại.

- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

- Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm.

Như vậy, người gây tai nạn có trách nhiệm bồi thường các khoản chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe của người bị thiệt hại. Người gây tại nạn phải chi trả phần chi phí tái khám và chi phí mổ mà không phụ thuộc vào việc có thỏa thuận hay không; chỉ cần người bị thiệt hại nêu rõ từng khoản thiệt hại thực tế đã xảy ra, mức yêu cầu bồi thường và phải có chứng từ hoặc giấy biên nhận hợp lệ về các khoản chi phí hợp lý, về thu nhập của người bị thiệt hại.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 585 Bộ luật dân sự 2015 về nguyên tắc bồi thường thiệt hại thì các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp không thỏa thuận được việc bồi thường thì trong thời hạn 03 năm kể từ ngày tai nạn xảy ra người gây thiệt hại hoặc chủ thể khác có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết (Điều 588 Bộ luật dân sự 2015).

Câu hỏi: Hỏi về việc đã thanh toán nhưng bên bán không giao hàng xử lý thế nào?

Cho em hỏi, Em có đặt hàng ngoài Móng Cái. Em đã chuyển tiền nhưng bên đó không chuyển hàng. Em muốn đòi lại tiền hay muốn biết địa chỉ của chủ tài khoản thì phải làm cách nào. Mong quý cơ quan chỉ giúp. Em cảm ơn!

Người gửi: Nguyễn Hồng Anh Địa chỉ: Xã Trung môn Huyện, Yên Sơn, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 07/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 08/07/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT Cổng Thông tin điện tử, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin có ý kiến giúp bạn tham khảo như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp, bạn đặt mua hàng ở Móng Cái qua mạng, bạn đã chuyển tiền cho bên bán nhưng sau đó bên bán không theo sự thỏa thuận của hai bên đã thỏa thuận từ trước là giao hàng. Giờ bạn muốn đòi lại tiền đã gửi cho bên bán, bạn không biết địa chỉ cụ thể của họ ở đâu. Bạn xác định lại bạn gửi tiền cho họ qua hình thức nào? Nếu qua thẻ ngân hàng hay số điện thoại có thể nhờ công an xác định nhân thân của họ.

Điều 430 Bộ luật dân sự 2015 quy định về hợp đồng mua bán tài sản:

“Điều 430. Hợp đồng mua bán tài sản

Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán.

Hợp đồng mua bán nhà ở, mua bán nhà để sử dụng vào mục đích khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật nhà ở và luật khác có liên quan.”

Điều 351 Bộ luật dân sự 2015 quy định về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ:

“Điều 351. Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ

1. Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.

Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ.

2. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

3. Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền.”

Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về quyền khởi kiện vụ án:

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”.

 

Căn cứ các quy định của luật và thỏa thuận mua bán hàng hóa giữa các bên, trường hợp bên bán đã nhận tiền nhưng không thực hiện nghĩa vụ giao hàng theo đúng hạn được xác định là vi phạm nghĩa vụ. Theo đó, bên bán phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền: tiếp tục thực hiện nghĩa giao hàng hóa hoặc trả tiền và bồi thường thiệt hại (nếu có).

Vậy, theo Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì bạn có quyền gửi đơn tới Tòa án nhân dân quận, huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc nơi đóng trụ sở (bị đơn là tổ chức) để yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ của mình nếu các bên không tự thỏa thuận hoặc bị đơn cố tình trốn tránh.

Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi của mình, căn cứ Điều 6 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì bạn cần cung cấp cho Tòa án nhân dân quận toàn bộ tài liệu, chứng cứ và chủ động chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ (giấy biên nhận bằng tay, bản tự khai,…..cùng toàn bộ các tài liệu khác liên quan).

Ngoài trách nhiệm dân sự như đã phân tích, nếu bên vi phạm hợp đồng có dấu hiệu gian dối nhằm chiếm đoạt toàn bộ số tiền của bạn (không liên lạc được điện thoại, không nhắn tin được và cung cấp những thông tin không đúng sự thật,….) thì bạn có quyền gửi đơn tố giác tội phạm tới Cơ quan có thẩm quyền tại Điều 145 – Bộ luật Tố tụng hình sự 2015

“Điều 145. Trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

1. Mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

2. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm:

a) Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

b) Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm.

3. Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố:

a) Cơ quan điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo thẩm quyền điều tra của mình;

b) Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo thẩm quyền điều tra của mình;

c) Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục.

4. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có trách nhiệm thông báo kết quả giải quyết cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.”

Bộ luật hình sự 2015 có quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Điều 174 như sau:

“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.”

 

Người thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối, chiếm đoạt được số tiền theo quy định tại Điều 174 sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự và phải chịu hình phạt theo Luật định.

Câu hỏi: Hỏi về nhận tiền chạy việc không trả có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Cho e hỏi ạ! Năm 2015 em học ra trường và nhờ người chạy việc cho đi dạy, trên giấy tờ chỉ là giấy vay nợ nhưng đến nay họ không xin đươc việc cho em và vẫn không có ý định trả lại tiền. Hiện tại họ đang trốn. Em muốn tư vấn về việc làm đơn tố cáo ạ. Em xin cảm ơn!

Người gửi: Trần Quỳnh Anh Địa chỉ: Phường Tân Quang, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 06/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 07/07/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin có ý kiến giúp bạn tham khảo như sau:

Thứ nhất, việc bạn đưa tiền cho người chạy việc dưới hình thức giấy vay nợ, theo quy định tại Điều 116 Bộ luật dân sự 2015 thì đây là một giao dịch dân sự:

“Điều 116. Giao dịch dân sự

Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”

Nếu xử lý theo trường hợp là vay nợ, tức là hợp đồng vay tài sản thì theo quy định của pháp luật dân sự, khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản đầy đủ số tiền gốc và lãi ( nếu có thỏa thuận). Nếu bên vay không trả, bên cho vay có quyền khởi kiện ra Tòa án để giải quyết.

Nếu trường hợp xác định đây là giấy nhận tiền chạy việc, chạy việc là hành vi không được pháp luật cho phép. Theo đó, đây là giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội. Do đó, đây được coi là giao dịch dân sự vô hiệu ( Điều 123 Bộ luật dân sự 2015). Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu là các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Tức là, bên nhận tiền chạy việc phải hoàn trả đầy đủ số tiền đã nhận của bạn.

Thứ hai, về việc làm đơn tố cáo

Với hành vi nhận tiền chạy việc, không có ý định trả tiền và bỏ trốn, người này có thể phải chịu trách nhiệm hình sự một trong hai tội: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hoặc Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác (Điều 174, Điều 175 Bộ luật hình sự 2015).

– Trường hợp 1: Người chạy việc ngay từ đầu biết rằng mình có khả năng chạy việc và thực hiện hành vi để chạy việc như làm thủ tục, hồ sơ, lợi dụng các mối quan hệ, đưa tiền chạy việc và không xin được việc  nhưng không trả lại tiền cho gia đình bạn thì cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

– Trường hợp 2: Người này biết rõ là mình không có khả năng chạy việc nhưng vẫn đề nghị gia đình bạn đưa tiền chạy việc thì đó là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Tuy nhiên, nếu người chạy việc cho bạn là người có chức vụ, quyền hạn và bằng chức vụ quyền hạn của mình để lo công việc cho bạn, thì đây có thể coi là hành vi nhận hối lộ.

Căn cứ theo Điều 354 Bộ luật hình sự 2015 về tội nhận hối lộ được quy định như sau:

“Điều 354. Tội nhận hối lộ

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Lợi ích phi vật chất.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lạm dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đến dưới 3.000.000.000 đồng;

đ) Phạm tội 02 lần trở lên;

e) Biết rõ của hối lộ là tài sản của Nhà nước;

g) Đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

b) Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên.

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

6. Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà nhận hối lộ, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này.”

Ngoài ra, bạn là người đưa tiền cho người có chức vụ quyền hạn để người này thực hiện hành vi chạy việc, bạn cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội đưa hối lộ theo quy định tại Điều 364 Bộ luật hình sự 2015. Để lấy lại tiền, bạn có thể làm đơn tố cáo gửi đến cơ quan công an nơi người này đang cư trú. 

Đơn tố cáo bạn cần trình bày đầy đủ nội dung theo quy định tại Khoản 2 Điều 19 Luật tố cáo 2011 bao gồm:

+ Ngày, tháng, năm tố cáo;

+ Họ, tên, địa chỉ của người tố cáo;

+ Nội dung tố cáo

Đơn tố cáo phải do người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ. Trường hợp nhiều người cùng tố cáo bằng đơn thì trong đơn phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của từng người tố cáo, có chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tố cáo; họ, tên người đại diện cho những người tố cáo để phối hợp khi có yêu cầu của người giải quyết tố cáo.

Câu hỏi: Ký kết Hợp đồng lao động với người lao động đã nghỉ hưu

Xin hỏi tôi muốn ký hợp đồng ba năm với lao động đã nghỉ hưu làm công việc chuyên môn kỹ thuật có được không?

Người gửi: Nguyễn Hải Anh Địa chỉ: Đường Quang Trung, Phường Tân Quang, TP Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày gửi: 28/03/2019
Câu hỏi: Các chế độ bảo hiểm của người lao động nữ trong thời gian nghỉ thai sản

Xin hỏi :Tôi nghỉ thai sản đúng quy định hiện hành là 04 tháng, có hồ sơ hợp lệ. Vậy tôi có phải đóng bảo hiểm y tế trong 4 tháng nghỉ này không?

Người gửi: Nguyễn Phương Anh Địa chỉ: Tổ 8, Phường Hưng Thành, TP Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử
Ngày gửi: 26/03/2019
Câu hỏi: Câu hỏi chính sách theo Nghị định 116/2010/NĐ-CP

Theo tôi được biết, ngày 28/4/2017 Chính phủ đã ban hành Quyết Định số 582/QĐ-TTg phê duyệt thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016- 2020, xin hỏi: Viên chức trạm khuyến nông huyện được giao phụ trách xã thuộc khu vực III tại Quyết Định số 582/QĐ-TTg có được hưởng chính sách theo nghị định 116/2010 hay không? Xin cám ơn!

Người gửi: Ma Bá Thành Địa chỉ: Trạm khuyến nông huyện Chiêm Hóa
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Nội vụ
Ngày gửi: 23/03/2018
Câu hỏi: Thủ tục giấy phép xây dựng nhà ở

Mảnh đất nhà tôi đang ở ngày trước thuộc quản lý của Rạp Chiếu bóng, giờ bàn giao lại cho UBND huyện (Sơn Dương) quản lý. Trước gia đình tôi mua lại căn nhà của cơ quan và tham gia đóng thuế đất từ trước năm 1990. Hiện nay nhà ở của gia đình tôi xuống cấp nghiêm trọng có thể sụp đổ bất cứ lúc nào. Tôi muốn sửa chữa lại có được không? nếu được cần làm những thủ tục gì?

Mảnh đất đó có đủ điều kiện để cấp sổ đỏ hay không và nếu thu hồi lại, gia đình tôi có được cắm lại chỗ ở mới không?

Tôi xin chân thành cám ơn!

Người gửi: Đinh Gia Huyên Địa chỉ: Tổ dân phố Quyết Thắng, TT. Sơn Dương, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Tài nguyên và Môi trường
Ngày gửi: 21/02/2018
Câu hỏi: Hỏi về làm đường

Tôi là Nguyễn Thị Quý, công dân tổ 40, phường Minh Xuân, thành phố Tuyên Quang. Tôi xin hỏi 1 việc như sau: Tổ 40 là nơi ra đời chi bộ Mỏ Than (chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh). Tuy nhiên con đường Nguyễn Thị Minh Khai, đặc biệt là đường vào ngõ 38 qua khu dân cư nơi đây đã xuống cấp nghiêm trọng gần chục năm nay. Mặt đường ngay phía trước nhà tôi lởm chởm toàn đá, ổ gà. Ngay phía đầu ngõ rẽ từ Tỉnh ủy xuống còn 1 phần taluy bằng đất gò ụ nhô ra dài hàng chục mét che khuất tầm nhìn, nguy hiểm cho người tham gia giao thông. Hơn nữa hai năm trở lại đây trong khu dân cư có nhiều hộ xây, sửa nhà cửa khiến cát sỏi trôi ra đường rất nhiều, phương tiện tham gia giao thông khi tránh nhau thường bị trượt cát loạng choạng mà ngã. Đã có rất nhiều người ngã xe, va chạm giao thông bị thương phải đưa đi sơ cứu tại bệnh viện. 

Người dân trong tổ đã kiến nghị nhiều lần đến cấp có thẩm quyền, và đã nhiều lần được hứa sẽ sớm làm con đường này. Nhân dân trong tổ tin tưởng lời hứa của cấp có thẩm quyền, nhưng mong mỏi từ năm này qua năm khác mà con đường vẫn ngày càng xuống cấp nghiêm trọng. Hôm nay tôi đưa câu hỏi này đến Cổng Thông tin điện tử tỉnh đề nghị được cấp có thẩm quyền trả lời bao giờ thì con đường qua tổ 40 Minh Xuân, nơi ra đời chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh được khởi công xây dựng đáp ứng niềm mong mỏi của nhân dân.

Tôi mong nhận được phản hồi sớm. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Nguyễn Thị Quý Địa chỉ: Tổ 40, phường Minh Xuân, thành phố Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Giao thông vận tải
Ngày gửi: 17/01/2018
Câu hỏi: Việc làm cho sinh viên cử tuyển

Nhờ Ban Biên Tập chuyển lời hộ em. 

Theo NĐ-CP số 134/2006 Tại chương III Điều 11 có ghi rõ về việc tiếp nhận, phân công công tác cho người được cử đi học theo chế độ cử tuyển sau khi tốt nghiệp. Và trong khoản 1 điều 11 có ghi rõ là "Hàng năm, các cơ sở giáo dục gửi danh sách, bàn giao hồ sơ và bằng tốt nghiệp của người học theo chế độ cử tuyển tốt nghiệp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh". Vậy cho em hỏi,  Em là sinh viên trường ĐHXD Hà Nội tốt nghiệp năm 2015 và sau khi ra trường không thấy Sở Giáo dục bàn giao hồ sơ của em cho UBND tỉnh để phân công công tác theo chế độ cử tuyển. Em xin cảm ơn.

Người gửi: Đặng Bùi Anh Đức Địa chỉ: Yên Sơn tuyên quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Nội vụ
Ngày gửi: 15/10/2017
Câu hỏi: Về việc chợ Phan Thiết tràn lan ra đường phố

Từ khi xây dựng lại chợ Phan Thiết (ngay trung tâm thành phố, gần Tỉnh uỷ), bà con tràn ra đường (đường Hồng Thái) buôn bán, rác thải, nước thải vứt ra đầy đường rất mất vệ sinh; những hộ gia đình nằm trong khu vực này, trong đó có gia đình tôi và các tổ 15,7,16,...rất bất tiện trong việc di chuyển, đôi khi còn bị người bán hàng chửi bới, đánh đập vì đi ô tô vào đây.

Vấn đề này tôi cũng đã thấy chính quyền (UBND phường Phan Thiết) có thời gian xử lý, nhưng xử lí không triệt để (cụ thể: không thu hàng hoá của người sai phạm, cho bán hàng nửa bên trong chợ từ khách sạn Thành Trung vào trong nhưng người bán hàng vẫn lấn ná ra ngoài, chỉ thực hiện được 1 thời gian ngắn xong lại đâu vào đấy...).

Vậy tôi xin hỏi trách nhiệm giải tán khu chợ tạm này thuộc về ai hay cơ quan chức năng nào và bao giờ thì xử lí xong?

Đề nghị cơ quan đó có phương án giải tán khu vực trên, xử lí rác thải, nước thải rõ ràng để tình hình cuộc sống của chúng tôi trở lại bình thường.

Tôi xin chân thành cảm ơn các vị lãnh đạo tỉnh đã lắng nghe!

Người gửi: Trần Văn Khải Địa chỉ: Tổ 16, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Thành phố Tuyên Quang
Ngày gửi: 21/09/2017
Câu hỏi: Lập dự toán xây dựng công trình quy mô nhỏ

Tại điểm a khoản 1 Điều 82 Luật xây dựng năm 2014 quy định thẩm quyền thẩm định thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công và dự toán xây dựng: “Đối với công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước: Cơ quan chuyên môn về xây dựng theo phân cấp chủ trì thẩm định thiết kế kỹ thuật, dự toán xây dựng trong trường hợp thiết kế ba bước; thiết kế bản vẽ thi công, dự toán xây dựng trong trường hợp thiết kế hai bước”.

Như vậy, đối với Báo cáo kinh tế - kỹ thuật (thiết kế một bước), Luật Xây dựng năm 2014 không quy định thẩm định thiết kế bản vẽ thi công và dự toán xây dựng.

Các công trình trên địa bàn huyện (UBND huyện là chủ đầu tư) phần lớn là thiết kế một bước (chủ yếu dưới 03 tỷ đồng). Tuy nhiên trong dự toán các công trình (thiết kế 01 bước) lại có chi phí thẩm tra thiết kế và chi phí thẩm tra dự toán. Cho hỏi việc tính chi phí như vậy có đúng không?

Tệp đính kèm: Tải về
Người gửi: Cường Anh Địa chỉ: Na Hang, Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Xây dựng
Ngày gửi: 06/09/2017
Câu hỏi: Chế độ của cử tuyển

Tôi là sinh viên cử tuyển của tỉnh Tuyên Quang, tôi học trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội. Trong quyết định cử tôi đi học từ năm 2004 đến năm 2009 có ghi rõ là sau khi tôi tốt nghiệp ra trường tôi sẽ phải về tỉnh công tác theo sự phân công công tác của Chủ tịch UBND Tỉnh. Tôi muôn hỏi tại sao từ khi tốt nghiệp ra trường đến nay vẫn chưa được phân công công tác?

Tệp đính kèm: Tải về
Người gửi: Ma Thị Chinh Địa chỉ: Xã Yên Thuận - Huyện Hàm Yên - Tỉnh Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Nội vụ
Ngày gửi: 04/08/2017
Lưu ý: Bạn phải nhập đầy đủ, chính xác các thông tin để Ban biên tập thuận lợi trong việc liên lạc, hỗ trợ.
(Các ô có dấu (*) bắt buộc phải nhập dữ liệu)
Mã bảo vệ
Retype the CAPTCHA code from the image
Change the CAPTCHA codeSpeak the CAPTCHA code
 
Hiện nay, do số lượng câu hỏi gửi về BBT Cổng Thông tin điện tử nhiều, vì vậy, BBT chỉ trả lời các câu hỏi có nội dung rõ ràng, ngắn gọn, không sai lỗi chính tả, điền đầy đủ các thông tin và không trùng lặp với các câu hỏi hoặc câu trả lời đã có. Nếu trường hợp nội dung câu hỏi dài thì soạn thảo thành định dạng word và gửi theo file đính kèm. Thời hạn trả lời là 20 ngày (đối với các câu hỏi phải gửi tới các ngành liên quan).

BBT CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH TUYÊN QUANG

Liên kết chuyên mục