Từ khóa:
Câu hỏi: Hỏi về đang vay ngân hàng thì có được xuất cảnh không? Các trường hợp được xuất cảnh theo quy định hiện hành.

Cho em hỏi 1 vấn đề ạ. Em có vay ngân hàng A 1 khoản tiền khoảng 70 triệu. Nay em muốn đi du lịch nước ngoài với Công ty em. Trường hợp của em có thể xuất cảnh không ạ?

Người gửi: Nguyễn Tiến Trung Địa chỉ: Phường Minh Xuân, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 24/05/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 25/05/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT Cổng Thông tin điện tử.

Theo bạn trình bày bạn đang vay ngân hàng một khoản tiền 70 triệu đồng, bạn không trình bày rõ bạn đã đến hạn trả nợ hay chưa? Căn cứ Điều 474 Bộ luật dân sự 2005 quy định nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau:

Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ. »

Như vậy, bạn phải có nghĩa vụ trả đủ tiền khi đến hạn vay tài sản của ngân hàng.

Căn cứ Nghị định 136/2007/NĐ-CP quy định về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam như sau:

“Điều 21. Công dân Việt Nam ở trong nước chưa được xuất cảnh nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:

1. Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc có liên quan đến công tác điều tra tội phạm.

2. Đang có nghĩa vụ chấp hành bản án hình sự.

3. Đang có nghĩa vụ chấp hành bản án dân sự, kinh tế; đang chờ để giải quyết tranh chấp về dân sự, kinh tế.

4. Đang có nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nghĩa vụ nộp thuế và những nghĩa vụ khác về tài chính trừ trường hợp có đặt tiền, đặt tài sản hoặc có biện pháp bảo đảm khác để thực hiện nghĩa vụ đó.

5. Vì lý do ngăn chặn dịch bệnh nguy hiểm lây lan.

6. Vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.

7. Có hành vi vi phạm hành chính về xuất nhập cảnh theo quy định của Chính phủ.”

Bạn vay ngân hàng 70 triệu và đang nợ ngân hàng, tức là theo khoản 4 Điều 21 nêu trên quy định trường hợp “những nghĩa vụ tài chính khác” chưa thực hiện nhưng nếu bạn có tài sản để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ đó nên về nguyên tắc, bạn không thuộc trường hợp chưa được phép xuất cảnh ra nước ngoài. Trường hợp bạn không có tài sản bảo đảm, đến hạn mà bạn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà Ngân hàng khởi kiện bạn thì bạn sẽ thuộc trường hợp chưa được xuất cảnh theo khoản 3 Điều 21 nêu trên“đang có nghĩa vụ chấp hành án dân sự”. Do vậy, để tránh những rắc rối hoặc tranh chấp có thể phát sinh trước khi xuất cảnh, bạn nên có văn bản thông báo cho ngân hàng mà đang có nghĩa vụ trả nợ biết về việc xuất cảnh cũng như ủy quyền cho thân nhân quản lý nhà và trả lãi hằng tháng, trả gốc khi đến hạn cũng như việc thực hiện các biện pháp bảo đảm về việc thanh toán nợ theo yêu cầu từ phía ngân hàng (nếu thấy cần thiết).

Câu hỏi: Hỏi về lao động thử việc trong thời gian nghỉ lễ có được hưởng lương không?

Xin hỏi lao động thử việc trong thời gian nghỉ lễ có được hưởng lương không? và quy định hưởng lương trong thời gian thử việc như thế nào ? Xin cảm ơn!

Người gửi: Tống Phương Trà Địa chỉ: Phường Tân Hà, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 23/05/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 24/05/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT Cổng Thông tin điện tử . Lao động để tạo ra của cải, tiền bạc phục vụ cho nhu cầu cuộc sống là hoạt động không thể thiếu của mỗi cá nhân. Trong quá trình làm việc, người lao động luôn tìm kiếm cho mình những công việc phù hợp với trình độ, năng lực, khả năng của bản thân mong sao có những công việc tốt nhất. Mỗi khi đến với một công việc mới lao động sẽ phải trải qua một thời gian thử việc nhất định tùy thuộc vào yêu cầu công việc cũng như năng lực của người xin việc. Vậy trong thời gian thử việc nếu vào dịp nghỉ lễ, tết thì lao động có được hưởng lương không? BBT dựa vào những quy định, căn cứ pháp lý xin trình bày nội dung này như sau:

Thứ nhất, thế nào là nghỉ lễ, tết:

– Ngoài việc được nghỉ 12 ngày trên 1 năm được hưởng nguyên lương thì người lao động còn được hưởng nguyên mức lương đối với những ngày ngày nghỉ lễ, tết của đất nước.

– Theo như Luật Lao động 2012 có quy định rõ ràng về những ngày được nghỉ lễ, tết được hưởng nguyên theo mức lương đã thỏa thuận đó là:

  • Tết dương lịch 01 ngày vào ngày 01 tháng 01 của năm dương lịch hàng năm;
  • Tết âm lịch cổ truyền 05 ngày căn cứ vào từng năm để xác định rơi vào những ngày nào của năm dương lịch;
  • Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 01 ngày vào ngày 30 tháng 04 hàng năm của năm dương lịch;
  • Ngày quốc tế lao động 01 ngày vào ngày 01 tháng 05 hàng năm của năm dương lịch;
  • Ngày quốc khánh khai sinh ra nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 01 ngày vào ngày 02 tháng 09 của năm dương lịch;
  • Ngày giỗ tổ Hùng Vương nghỉ  01 ngày vào ngày 10 tháng 03 theo lịch âm lịch. Ngày 10 tháng 03 rơi vào ngày nào của năm dương lịch thì sẽ được nghỉ ngày đó.

– Nếu người nước ngoài lao động làm việc tại Việt Nam thì ngoài những ngày nghỉ lễ, tết như đối với lao động Việt Nam thì Luật lao động cho phép họ được nghỉ thêm 01 ngày tết cổ truyền của đất nước họ và 01 ngày quốc khánh của đất nước họ. Việc cho phép người nước ngoài làm việc lao động tại Việt Nam được nghỉ thêm 02 kỳ nghỉ này nhằm đảm bảo việc tôn trọng đất nước người lao động đó cũng như người lao động làm việc xa quê hương được tham gia vui chơi, có kỳ nghỉ lễ đúng như người lao động của nước họ.

– Trường hợp ngày nghỉ, tết trùng vào ngày nghỉ hàng tuần,thì theo quy định tại Luật lao động 2012 thì người lao động sẽ được nghỉ bù vào ngày kế tiếp của ngày nghỉ hàng tuần đó. Ví dụ trường hợp ngày nghỉ lễ, tết trùng vào thứ bẩy, chủ nhật đối với những người lao động làm việc được nghỉ hàng tuần vào hai ngày cuối tuần này thì sẽ được nghỉ bù vào thứ hai và thứ ba của tuần kế tiếp. Trường hợp mà nơi làm việc quy định về việc chỉ được nghỉ một ngày làm việc vào chủ nhật thì sẽ được nghỉ bù thêm một ngày thứ hai của tuần kế tiếp.

Thứ hai, thế nào là người lao động:

– Người lao động được hiểu là người từ đủ 15 tuổi trở lên, tham gia làm việc khi đã có hợp đồng lao động ký kết cụ thể về các điều khoản, nội dung công việc đúng với vị trí việc làm của hai bên người sử dụng lao động và người lao động. Khi đã đạt được thỏa thuận hai bên cùng ký vào hợp đồng thì người lao động được trả lương và làm việc dưới sự quản lý, giám sát của người sử dụng lao động.

– Theo quy định trên thì yêu cầu về tuổi là vấn đề đầu tiên đặt ra đối với người lao động. Tuy nhiên, Luật lao động 2012 vẫn có những quy định riêng cho việc tuyển dụng người lao động dưới 15 tuổi đối với những công việc có tính chất nhẹ nhàng, phù hợp với người lao động dưới 15 tuổi. Việc nhận những người này vào làm việc phải đáp ứng những điều kiện theo Điều 164 của Luật lao động 2012 gồm:

  • Chỉ được sử dụng những người từ đủ 13 tuổi đến nhỏ hơn 15 tuổi vào làm những công việc mà đã được Bộ lao động – Thương binh và xã hội quy định chi tiết;
  • Người sử dụng lao động đối với những lao động này vẫn phải bảo đảm việc ký kết hợp đồng lao động và người đứng ra ký kết với người sử dụng lao động là người đại diện theo pháp luật của họ. Việc ký kết hợp đồng phải được sự đồng ý của người từ đủ 13 tuổi đến nhỏ hơn 15 tuổi. Thời gian làm việc phải được xắp xếp sao cho không ảnh hưởng đến giờ tham gia học tập của trẻ tại trường học. Cuối cùng là phải đảm bảo các điều kiện làm việc, vệ sinh lao động cũng như an toàn lao động phù hợp đúng với lứa tuổi này.

– Đối với những người dưới 13 tuổi thì việc sử dụng lao động phải đảm bảo được các yêu cầu như đối với người từ đủ 13 tuổi đến nhỏ hơn 15 tuổi và sử dụng người lao động vào làm việc đúng theo danh mục quy định tại Bộ lao động – Thương binh và xã hội.

Thứ ba, thế nào là thử việc:

– Thử việc ở đây là việc người sử dụng lao động trước khi đưa ra quyết định có chấp nhận người lao động vào làm việc chính thức cho công ty hay không sẽ cho người lao động một thời gian thử thách tùy thuộc vào vị trí công việc.

– Thời gian thử việc cũng được quy định rõ ràng tùy thuộc vào việc người lao động ứng tuyển vào vị trí công việc nào, mức độ phức tạp cũng như tính chất công việc mà người sử dụng lao động đưa ra yêu cầu về số ngày thử việc. Người sử dụng lao động không được phép thử việc quá 01 lần nếu vẫn là công việc đã qua thời gian thử việc. Thời gian thử việc phải đảm bảo về các điều kiện quy định như sau:

  • Thời gian thử việc không quá 60 ngày áp dụng với công việc có chức danh nghề yêu cầu trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cấp cao đẳng trở lên;
  • Thời gian thử việc không quá 30 ngày áp dụng với công việc có chức danh nghề yêu cầu trình độ chuyên môn và kỹ thuật trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề, nhân viên nghiệp vụ hay công nhân kỹ thuật.
  • Còn lại đối với những công việc khác, thời gian thử việc không quá 06 ngày.

– Khi đã kết thúc thời gian thỏa thuận về hoạt động thử việc của người lao động. Người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động biết về kết quả thử việc trước 03 ngày tính đến thời gian kết thúc công việc . Kết quả ở đây đó là họ có hoàn thành được công việc của mình hay không, trường hợp hoàn thành thì phải ký kết hợp đồng tuyển dụng với người lao động đúng như trong thỏa thuận. Nếu không đạt được mục đích, yêu cầu vị trí tuyển dụng thì phải thanh toán cho họ số lương thử việc như đã thỏa thuận với người lao động.

– Như quy định tại Điều 28, Luật lao động 2012 thì mức lương thử việc mà người sử dụng lao động đưa ra phải ít nhất bằng 85% mức lương chính thức của công việc ứng tuyển.

– Trong khoảng thời gian thử việc thì hai bên có quyền đơn phương chấm dứt thỏa thuận thử việc mà không cần báo trước với bên còn lại. Vấn đề bồi thường cũng không đặt ra với trường hợp công việc làm không đạt yêu cầu.

Như vậy, thì người lao động được nghỉ lễ, tết theo quy định của Luật lao động 2012 và được hưởng nguyên lương đối với những ngày nghỉ lễ này. Nhưng người lao động ở đây được xác định là người làm việc theo hợp đồng làm việc có thỏa thuận giữa hai bên và hai bên đã ký vào hợp đồng đó đảm bảo thực hiện đúng theo hợp đồng và quy định của pháp luật. Đối với những người làm việc mới đang ở mức thử việc thì vấn đề đặt ra ở đây là họ chưa có hợp đồng làm việc, hai bên chưa có dàng buộc với nhau về mặt pháp lý nên cũng không đề ra việc là bên phía người sử dụng lao động phải trả lương cho họ trong trường hợp này.

Việc có trả lương ở đây chỉ may chăng là do sự thỏa thuận giữa hai bên từ trước hay là do bên người sử dụng lao động tự nguyện thực hiện việc trả lương cho người lao động.

Câu hỏi: Hỏi về tự ý đốt rác ở khu vực dân cư bị xử lý như thế nào?

Nhà hàng xóm nhà tôi thường xuyên chất rác thành đống rồi tự ý đốt, làm ô nhiễm không khí trong xóm. Chúng tôi đã nhắc nhở rất nhiều lần nhưng họ vẫn không chấm dứt hành vi của mình. Trong trường hợp này tôi phải làm gì để hạn chế tình trạng trên? Việc tự ý đốt rác như vậy sẽ bị xử lý thế nào?

Người gửi: Nguyễn Văn An Địa chỉ: Phường Nông Tiến, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 22/05/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 23/05/2019

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi những thắc mắc của bạn đến BBT Cổng Thông tin điện tử . Với những thông tin bạn cung cấp BBT đưa ra ý kiến tư vấn cho bạn như sau:

Điều 172 Bộ luật dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ bảo vệ môi trường như sau:

"Khi thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản thì chủ thể phải tuân theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; nếu làm ô nhiễm môi trường thì phải chấm dứt hành vi gây ô nhiễm, thực hiện các biện pháp để khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại."

Theo thông tin bạn đưa ra nhà hàng xóm nhà bạn thường xuyên chất rác thành đống rồi tự ý đốt, làm ô nhiễm không khí trong xóm. Mặc dù bạn đã nhắc nhở nhiều lần nhưng người đó vẫn vi phạm thì trong trường hợp này bạn có thể báo với Ủy ban nhân dân xã phường nơi bạn cư trú để họ vào can thiệp.

Hành vi tự ý đốt rác thải tại khu vực dân cư của hàng xóm nhà bạn sẽ bị xử phạt hành chính. Mức xử phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 7 Nghị định 167/2013/NĐ-CP về xử lý hành vi vi phạm giữ gìn vệ sinh chung như sau:

"2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Đổ, ném chất thải, chất bẩn hoặc các chất khác làm hoen bẩn nhà ở, cơ quan, trụ sở làm việc, nơi sản xuất, kinh doanh của người khác;

b) Tự ý đốt rác, chất thải, chất độc hoặc các chất nguy hiểm khác ở khu vực dân cư, nơi công cộng;"

Căn cứ pháp lý:

Điều 172 Bộ luật dân sự 2015;

Khoản 2,3 Điều 7 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình

Câu hỏi: Hỏi về nghỉ phép có tính thứ 7, chủ nhật hay không?

Xin hỏi : Em làm trong cơ quan hành chính sự nghiệp, thời gian công tác 29 năm. Em xin hỏi mỗi năm em được nghỉ phép bao nhiêu ngày, có tính ngày thứ 7, chủ nhật không?

Người gửi: Trần Thị Thanh Nhàn Địa chỉ: Phường Tân Quang, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 21/05/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 22/05/2019

Chào bạn! BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Theo Điều 13 Luật cán bộ, công chức  quy định:

“Cán bộ, công chức được nghỉ hàng năm, nghỉ lễ, nghỉ để giải quyết việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động. Trường hợp do yêu cầu nhiệm vụ, cán bộ, công chức không sử dụng hoặc sử dụng không hết số ngày nghỉ hàng năm thì ngoài tiền lương còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng tiền lương cho những ngày không nghỉ”.

Về cách tính chế độ nghỉ phép năm:

Theo Điều 74 Bộ Luật lao động quy định:

“Người lao động có 12 tháng làm việc tại một doanh nghiệp hoặc với một người sử dụng lao động thì được nghỉ hàng năm, hưởng nguyên lương theo quy định sau đây:

- 12 ngày làm việc, đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường;

- 14 ngày làm việc, đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc ở những nơi có điều kiện sinh sống khắc nghiệt và đối với người dưới 18 tuổi;

- 16 ngày làm việc, đối với người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm ở những nơi có điều kiện sinh sống khắc nghiệt”.

Số ngày nghỉ hàng năm được tăng thêm theo thâm niên làm việc tại một doanh nghiệp hoặc với một người sử dụng lao động, cứ 5 năm được nghỉ thêm một ngày (Điều 75BLLĐ)

Như vậy, thời gian nghỉ phép năm theo quy định của pháp luật lao động là ngày làm việc của đơn vị và được hưởng nguyên lương. Chính vì vậy, những ngày nghỉ hàng tuần (thứ bảy, chủ nhật) sẽ không bị tính vào những ngày nghỉ phép đó, hay nói cách khác là bạn đương nhiên vẫn được nghỉ những ngày nghỉ hàng tuần, ngoài những ngày nghỉ phép hàng năm của bạn.

Câu hỏi: Hỏi về Bố mất hơn 20 năm mẹ có quyền phân chia di sản không? Thủ tục phân chia di sản thừa kế theo pháp luật.

Cho em hỏi, Nhà em có khuôn đất ở quê do bố em đứng tên, nay bố em đã mất gần 20 năm, mẹ em muốn sang tên mẹ để chia cho các con. Gia đình  em gồm có: 2 người con trai và 5 người con gái . Giờ mẹ muốn chia làm 3 phần. 2 phần cho 2 người con trai còn 1 phần cho 1 người con gái có hoàn cảnh khó khăn nhất ( 4 người con gái còn lại đều đồng ý) nhưng anh trai em lại không đồng ý cho 1 phần người em gái  ( có hoàn cảnh khó khăn). Xin hỏi e phải làm thế nào ạ ? Nếu mẹ em viết di chúc thì có được chấp nhận không ạ? Xin được tư vấn ạ!

Người gửi: Trần Trang Như Địa chỉ: Phường Quang Trung , TP Tuyên Quang Ngày gửi: 20/05/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 21/05/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, BBT xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.

Theo thông tin bạn cung cấp thì bố bạn mất không để lại di chúc thì di sản thừa kế sẽ được chia theo pháp luật – nghĩa là chia theo hàng thừa kế.

Theo quy định tại Điều 561 Bộ luật dân sự năm 2015 thì người thừa kế theo pháp luật như sau:

” 1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

 

Bên cạnh đó, một nửa khối tài sản chung thuộc về bố bạn sẽ được xác định là di sản thừa kế mà bố bạn để lại và được chia theo pháp luật cho các đồng thừa kế, nếu các đồng thừa kế không có thỏa thuận khác.

Trong trường hợp này, di sản bố bạn để lại sẽ được chia đều cho các đồng thừa kế hàng thứ nhất như đã nêu trên. Những người được thừa kế có thể tự thỏa thuận về việc chia di sản, nếu không thỏa thuận được thì có thể khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền để được xem xét, giải quyết

Trong trường hợp này, tài sản chung của bố mẹ bạn sẽ được chia đôi. Một nửa khối tài sản chung sẽ được xác định là tài sản riêng của mẹ bạn và mẹ bạn có toàn quyền định đoạt phần tài sản này.

 Trước tiên để lập di chúc thì người lập di chúc cần thỏa mãn các điều kiện như sau:

– Đủ 18 tuổi trở lên;

– Có đầy đủ năng lực hành vi dân sự;

– Minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc, không bị đe dọa, lừa dối, cưỡng ép.

Sau khi đáp ứng đủ điều kiện rồi thì phải đảm bảo nội dung và hình thức di chúc:

– Hình thức di chúc: Theo quy định tại Điều 628 và Điều 631 Bộ luật dân sự năm 2015, di chúc có thể có các hình thức sau: di chúc bằng miệng; di chúc bằng văn bản, không có người làm chứng; di chúc bằng văn bản, có người làm chứng; di chúc bằng văn bản, có công chứng hoặc chứng thực.

– Nội dung của di chúc: phải bao gồm các nội dung sau: ngày tháng năm lập di chúc; thông tin cá nhân (họ tên, nơi cư trú,…) của cá nhân lập di chúc và cá nhân/tổ chức được hưởng di sản; di sản để lại và nơi có di sản; chỉ định các nghĩa vụ và người thực hiện nghĩa vụ nếu có, nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

Theo đó, khi lập di chúc mẹ  bạn cần đảm bảo điều kiện, nội dung, hình thức của di chúc để đảm bảo di chúc có hiệu lực.

Câu hỏi: Hỏi về sửa chữa lại công trình nhà ở có phải xin giấy phép sửa chữa không? Xin ở đâu? Thủ tục xin như thế nào?

Xin hỏi: Tôi muốn sửa lại ngôi nhà đang sử dụng vì đã quá cũ sau 20 năm sử dụng. Bong đá ốp mặt tiền, chát lại lăn sơn cả 3 tầng, mở cửa làm 1 gian bếp khoảng 30m2 phía sau nhà chính. Lát lại nền tầng 1, làm trần thạch cao. Vậy tôi có cần xin giấy phép sửa chữa ko? Rất mong nhận được câu trả lời ?

Người gửi: Ngô Thị Vân Anh Địa chỉ: Phường Tân Quang, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 19/05/2019
Cơ quan trả lời: Ban biên tập Cổng thông tin điện tử
Ngày trả lời: 20/05/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT Cổng Thông tin điện tử.

Theo thông tin bạn đưa ra, bạn đang quan tâm đến vấn đề căn nhà bạn cần sửa chữa lại do thời gian sử dụng đã lâu, nhà đã xuống cấp cần chỉnh sửa, bạn không xác định được có phải xin giấy phép xây dựng cho vấn đề sửa chữa này hay không? Và xin thì thủ tục cần làm với cơ quan Nhà nước nào? Căn cứ theo khoản 1, khoản 2 Điều 89, Luật Xây dựng năm 2014 quy định:

“1. Trước khi khởi công xây dựng công trình, chủ đầu tư phải có giấy phép xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Công trình được miễn giấy phép xây dựng gồm:

a) Công trình bí mật nhà nước, công trình xây dựng theo lệnh khẩn cấp và công trình nằm trên địa bàn của hai đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên;

b) Công trình thuộc dự án đầu tư xây dựng được Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp quyết định đầu tư;

c) Công trình xây dựng tạm phục vụ thi công xây dựng công trình chính;

d) Công trình xây dựng theo tuyến ngoài đô thị nhưng phù hợp với quy hoạch xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận về hướng tuyến công trình;

đ) Công trình xây dựng thuộc dự án khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao có quy hoạch chi tiết 1/500 đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và được thẩm định thiết kế xây dựng theo quy định của Luật này;

e) Nhà ở thuộc dự án phát triển đô thị, dự án phát triển nhà ở có quy mô dưới 7 tầng và tổng diện tích sàn dưới 500 m2 có quy hoạch chi tiết 1/500 đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

g) Công trình sửa chữa, cải tạo, lắp đặt thiết bị bên trong công trình không làm thay đổi kết cấu chịu lực, không làm thay đổi công năng sử dụng, không làm ảnh hưởng tới môi trường, an toàn công trình;

h) Công trình sửa chữa, cải tạo làm thay đổi kiến trúc mặt ngoài không tiếp giáp với đường trong đô thị có yêu cầu về quản lý kiến trúc;

i) Công trình hạ tầng kỹ thuật ở nông thôn chỉ yêu cầu lập Báo cáo kinh tế – kỹ thuật đầu tư xây dựng và ở khu vực chưa có quy hoạch chi tiết xây dựng điểm dân cư nông thôn được duyệt;

k) Công trình xây dựng ở nông thôn thuộc khu vực chưa có quy hoạch phát triển đô thị và quy hoạch chi tiết xây dựng được duyệt; nhà ở riêng lẻ ở nông thôn, trừ nhà ở riêng lẻ xây dựng trong khu bảo tồn, khu di tích lịch sử – văn hóa;

l) Chủ đầu tư xây dựng công trình được miễn giấy phép xây dựng theo quy định tại các điểm b, d, đ và i khoản này có trách nhiệm thông báo thời điểm khởi công xây dựng kèm theo hồ sơ thiết kế xây dựng đến cơ quan quản lý xây dựng tại địa phương để theo dõi, lưu hồ sơ.”

 

Như vây, nhà của bạn không  thuộc một trong những trường hợp tại Khoản 2 Điều 89 Luật Xây dựng năm 2014, do đó sẽ rơi vào trường hợp còn lại thì sẽ phải xin cấp phép xây dựng tại cơ quan có thẩm quyền. Cụ thể, nhà chị cần xin giấy phép sửa chữa, cải tạo theo khoản 3 Điều 89 Luật Xây dựng năm 2014.

Về thẩm quyền và thủ tục xin cấp phép xây dựng:

Nhà bạn theo quy định pháp luật thuộc loại ông trình còn lại hoặc nhà ở riêng lẻ ở đô thị, căn cứ theo điểm c khoản 2 Điều 17 Thông tư 15/2016/TT-BXD quy định:

Thẩm quyền cấp, Điều chỉnh, gia hạn, cấp lại và thu hồi giấy phép xây dựng:

Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp giấy phép xây dựng các công trình còn lại và nhà ở riêng lẻ ở đô thị, bao gồm cả nhà ở riêng lẻ trong khu vực đã được Nhà nước công nhận bảo tồn thuộc địa giới hành chính do mình quản lý, trừ các đối tượng do Bộ xây dựng hoặc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cấp; 

Hồ sơ xin cấp phép xây dựng:

Đơn đề nghị cấp giấy phép sửa chữa, cải tạo công trình.

Bản sao một trong những giấy tờ chứng minh về quyền sở hữu, quản lý, sử dụng công trình, nhà ở theo quy định của pháp luật.

Bản vẽ, ảnh chụp hiện trạng của bộ phận, hạng mục công trình, nhà ở riêng lẻ đề nghị được cải tạo.

Câu hỏi: Hỏi về Có đòi lại được quyền sử dụng đất khi đã chuyển nhượng cho người khác không? Đòi quyền sử dụng đất đã cho anh trai để chăm sóc bố mẹ

Tôi muốn hỏi: Gia đình tôi được gia đình nhà chú ruột chuyển 706m2 đất ruộng từ năm 1996 với mục đích là gia đình tôi chuyển bà nội xuống gia đình tôi ở để nuôi dưỡng vì trước đây bà ở với chú thím (có giấy chuyển nhượng viết tay có xác nhận của UBND xã, số ruộng đó vẫn nằm trong sổ bìa đỏ của chú thím). Nay chú tôi khởi kiện để đòi lại 1/2 số ruộng đó nói là để nuôi ông (hiện ông vẫn còn sống và ở nhà chú thím, ông là cán bộ về hưu). Vậy tôi muốn hỏi chú thím tôi làm như vậy có đúng hay không?

Người gửi: Đào Huyền Trang Địa chỉ: Phường Minh Xuân, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 19/05/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 20/05/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, BBT xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Đất đai luôn là vấn đề phức tạp và xảy ra nhiều tranh chấp do nhiều yếu tố liên quan đến việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tặng cho, thừa kế… Điều này hoàn toàn dễ hiểu do nhu cầu sử dụng đất ngày càng nhiều, dân số tăng dẫn đến ” đất chật người đông”, góp phần làm cho giá trị quyền sử dụng đất ngày càng tăng cao và ai cũng muốn giữ cho mình một phần quyền sử dụng đất. Khi xảy ra tranh chấp, các đương sự phải đưa ra chứng cứ chứng minh về quyền sử dụng đất như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng tặng cho, văn bản thừa kế.

Căn cứ theo Muc II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP quy định về thừa kế, tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất như sau:

II. VỀ THỪA KẾ, TRANH CHẤP LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

2. Việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

2.3. Việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập từ sau ngày 15/10/1993

a) Điều kiện để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Theo quy định tại Điều 131, các điều từ Điều 705 đến Điều 707 và Điều 711 của Bộ luật dân sự, khoản 2 Điều 3, Điều 30, Điều 31 của Luật Đất đai năm 1993 và khoản 1 Điều 106, điểm b khoản 1 Điều 127, khoản 1 Điều 146 của Luật Đất đai năm 2003, thì Toà án chỉ công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi hợp đồng đó có đầy đủ các điều kiện sau đây:

a.1) Người tham gia giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có năng lực hành vi dân sự;

a.2) Người tham gia giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoàn toàn tự nguyện;

a.3) Mục đích và nội dung của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không trái pháp luật, đạo đức xã hội;

a.4) Đất chuyển nhượng đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003;

a.5) Bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đủ điều kiện chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đủ điều kiện về nhận chuyển nhượng theo quy định của pháp luật;

a.6) Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập thành văn bản có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền.

 

Theo đó, để được công nhận quyền sử dụng đất, gia đình bạn phải có đầy đủ các điều kiện trên. Giả thiết, gia đình bạn nhận chuyển nhượng từ chú ruột, đáp ứng đủ các điều kiện trên, hợp đồng chuyển nhượng đã được chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã được coi là hợp pháp. Tuy nhiên, gia đình bạn chưa làm thủ tục sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì chưa được coi là người có quyền sử dụng đất hợp pháp và đất này vẫn là của chú thím bạn. 

Xét về mặt hợp đồng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chú thím và gia đình bạn được giao kết một cách hợp pháp nên về nguyên tắc các bên phải tuân thủ theo đúng thỏa thuận của hợp đồng, gia đình chú thím bạn cũng có nghĩa vụ phải thực hiện việc sang tên cho gia đình bạn. Chú thím bạn chưa sang tên nhưng muốn chấm dứt hợp đồng và đòi lại quyền sử dụng đất là xâm phạm đến quyền của gia đình bạn. Việc hủy bỏ hợp đồng chỉ được đặt ra khi có hành vi trái pháp luật hoặc hai bên có thỏa thuận về việc chấm dứt hợp đồng. Có 2 trường hợp có thể xảy ra:

– Trường hợp 1: Gia đình bạn đồng ý hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Nếu gia đình bạn đồng ý hủy bỏ hợp đồng thì cả hai bên cùng ra Ủy ban nhân dân xã để tiến hành thủ tục hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng và phải được lập thành văn bản, có cam kết của hai bên. Sau khi hủy bỏ hợp đồng thì hai bên sẽ phải trả lại cho nhau những gì đã nhận, bạn trả lại đất cho nhà chú thím và chú thím trả lại tiền cho gia đình bạn.

– Trường hợp 2: Gia đình bạn không đồng ý hủy bỏ hợp đông chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Căn cứ theo Khoản 2 Điều 5 Luật Công chứng năm 2014 quy định về giá trị pháp lý của văn bản công chứng:

“Điều 5. Giá trị pháp lý của văn bản công chứng

2. Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác.”

 

Trường hợp này, hợp đồng chuyển nhượng không được thực hiện theo thỏa thuận, chú thím bạn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình thì gia đình bạn có quyền khởi kiện ra Tòa án nhân dân cấp quận/ huyện để được giải quyết. 

Trong cả hai trường hợp, chú thím bạn đều có nghĩa vụ bồi thường cho gia đình bạn khi đơn phương chấm dứt hợp đồng theo quy định tại Điều 428 Bộ luật dân sự năm 2015. Cụ thể:

+ Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận.

+ Phải thông báo ngay cho bên kia về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường

+ Khi hợp đồng chấm dứt, hai bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết trách chấp

+ Bên bị thiệt hại do hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng của bên kia được bồi thường

+ Trường hợp việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng không có căn cứ thì bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng được xác định là bên vi phạm nghĩa vụ và phải thực hiện trách nhiệm dân sự.

Thiệt hại thực tế của gia đình bạn có thể là giá trị tài sản trong việc cải tạo, nâng cấp, đầu tư…vào đất và tài sản gắn liền trên đất. Căn cứ theo quy định trên gia đình bạn có thể khởi kiện tài Tòa án nhân dân cấp quận/ huyện, hồ sơ khởi kiện bao gồm:

– Đơn khởi kiện

– Giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất như hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất…

– Giấy tờ tùy thân: Chứng minh thư nhân dân, sổ hộ khẩu (bản sao)

Câu hỏi: Hỏi về việc Xây dựng gây sụt lún nhà bên cạnh bồi thường thế nào? Quy định về nghĩa vụ tôn trọng quy tắc xây dựng như thế nào?

Xin hỏi: Hiện giờ nhà tôi đang xây nhà (nhà biệt thự 2 tầng) và có đào hầm để xe ô tô. Nhà tôi đất rộng nên khi đào nhà tôi đào cách xa nhà bên cạnh 1m tường mới đến chân móng nhà tôi. Nhà tôi và nhà họ cùng nằm trên nên đá trong quá trình đào tôi có lấy máy đục đá đục tầng hầm, nên nhà họ bảo nhà tôi làm vậy nên bị rung, sụt đất nên tường nhà họ bị nứt nhẹ họ bắt đền nhà phải xây nhà mới như thế có đúng không? Mong được tư vấn và hướng dẫn cách giải quyết ạ!

Người gửi: Trần Trang Như Địa chỉ: Phường Quang Trung , TP Tuyên Quang Ngày gửi: 18/05/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 19/05/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, BBT xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Về việc bồi thường cho gia đình hàng xóm:

Theo quy định tại Điều 174 Bộ luật dân sự 2015:

“Khi xây dựng công trình, chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản phải tuân theo pháp luật về xây dựng, bảo đảm an toàn, không được xây vượt quá độ cao, khoảng cách mà pháp luật về xây dựng quy định và không được xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản là bất động sản liền kề và xung quanh.”

Tuy nhiên, theo thông tin mà bạn cung cấp, khi bạn tiến hành xây dựng nhà của bạn thì tường nhà hàng xóm bị nứt nhẹ. Điều này có nghĩa việc xây nhà của bạn có thể đã ảnh hưởng xấu tới kết cấu nhà, nền, móng… của nhà bên cạnh. Bởi thế, việc đầu tiên là phải làm rõ nguyên nhân thực sự gây nên hiện tượng trên. Theo như bạn có nếu, nhà anh làm nhà và đào móng cách nhà bên cạnh 1m, nhưng do 2 nhà cùng nằm trên đá, nhà anh trong quá trình đào làm ảnh hưởng đến nhà bên cạnh dẫn đến nứt nhẹ, do đó theo quy định nhà anh phải bồi thường phần thiệt hại này cho nhà bên cạnh.

Về việc gia đình nhà bên cạnh bị nứt tường và yêu cầu gia đình bạn bồi thường thì đây là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau:

– Có hành vi xâm phạm tới tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại;

– Không phát sinh nghĩa vụ bồi thường nếu thiệt hại là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại;

– Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại;

– Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

Như vậy, để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của gia đình bạn có phát sinh hay không bạn cần xác định rõ các vấn đề sau:

– Gia đình bạn đã xây dựng đúng phần diện tích đất của nhà mình hay chưa?

– Nguyên nhân gây nứt tường của nhà bên cạnh là gì?

Nếu gia đình bạn trong quá trình xây dựng có lỗi gây ra thiệt hại hoặc việc xây dựng công trình của gia đình bạn không đảm bảo an toàn gây thiệt hại cho gia đình bên cạnh thì gia đình bạn có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 589 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

“Điều 589. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm

Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm:

Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng.

Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút.

Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.

Thiệt hại khác do luật quy định.”

Do đó, nhà bạn cần xem xét phần thiệt hại với nhà bên cạnh, nếu nguyên nhận là do nhà bạn xây dựng làm ảnh hưởng đến nhà bên cạnh phải bồi thường phần giá trị thiệt hại, căn cứ theo nhà bên cạnh nứt như thế nào? Thời gian nhà bên cạnh đã xây dựng bao lâu để thỏa thuận bồi thường cho phù hợp.

Câu hỏi: Hỏi về việc mượn xe nhưng không trả xử lý thế nào? Hợp đồng mượn tài sản và trách nhiệm hình sự khi cố tình không trả tài sản đã mượn

Cho em hỏi :  Em có 1 chiếc xe điện. Sau đó thì có 1 người chú hỏi mượn, 1 tháng sau em không thấy chú em trả xe, chú nói là người quen của chú  mượn đi không thấy về nữa. Em có đề nghị trả xe nhiều lần nhưng chú không hẹn chính xác mà vòng vo. Em có thể đưa ra công an giải quyết không ạ? E Rất mong nhận được câu trả lời ạ!

Người gửi: Nguyễn Thị Lan Địa chỉ: Phường Nông Tiến,TP Tuyên Quang Ngày gửi: 17/05/2019
Cơ quan trả lời: Ban biên tập Cổng thông tin điện tử
Ngày trả lời: 18/05/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, BBT xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Hợp đồng mượn tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được. Chú của bạn đã thỏa thuận với bạn để được mượn chiếc xe đạp điện nên hết thời hạn mượn thì chú sẽ phải trả lại cho bạn. Tại khoản 2, 3, 4, 5 Điều 496 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ của bên mượn tài sản:

“2. Không được cho người khác mượn lại, nếu không có sự đồng ý của bên cho mượn.

3. Trả lại tài sản mượn đúng thời hạn; nếu không có thỏa thuận về thời hạn trả lại tài sản thì bên mượn phải trả lại tài sản ngay sau khi mục đích mượn đã đạt được.

4. Bồi thường thiệt hại, nếu làm mất, hư hỏng tài sản mượn.

5. Bên mượn tài sản phải chịu rủi ro đối với tài sản mượn trong thời gian chậm trả.”

Theo đó, bên mượn sẽ không được cho người khác mượn lại tài sản đã mượn nếu không được bên cho mượn đồng ý, phải chịu rủi ro đối với tài sản mượn trong thời gian chậm trả và bồi thường thiệt hại nếu làm mất tài sản đã mượn. Bạn cho chú mượn chiếc xe đạp điện này nên chú của bạn không được tự ý cho người khác mượn xe mà bạn không đồng ý và phải bồi thường cho bạn chiếc xe này khi làm mất và theo như thỏa thuận về thời hạn mượn thì chú bạn phải trả lại chiếc xe cho bạn khi đến ngày hẹn trả. Để đòi lại chiếc xe này thì bạn có thể khởi kiện ra Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chú của bạn đang cư trú hiện nay. Nếu chú của bạn trốn tránh không trả nhằm mục đích chiếm đoạt chiếc xe thì bạn có thể trình báo ra cơ quan công an về hành vi của chú mình căn cứ theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bởi Luật sửa đổi Bộ luật hình sự năm 2017 quy định:

“Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: 

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả; 

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.”

Để cấu thành tội này thì giá trị chiếc xe phải từ 4 triệu đồng trở lên hoặc nếu dưới 4 triệu đồng thì trước đó chú của bạn phải đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc các tội về xâm phạm quyền sở hữu và hành vi thông qua thỏa thuận cho mượn nhưng hiện nay dù có điều kiện trả nhưng lại cố tình không trả hoặc sử dụng vào mục đích bất hợp pháp như không có khả năng trả nhưng cố ý mượn xe mang đi cầm cố để ăn tiêu, mua sắm thì chú ấy có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Do đó, bạn có thể lựa chọn việc trình báo ra cơ quan công an hoặc có thể khởi kiện ra Tòa án nhân dân nơi chú bạn đang cư trú hiện nay vì thời hạn cho mượn xe đã hết và nghĩa vụ của chú là phải trả lại chiếc xe nguyên trạng như lúc đã mượn.

Câu hỏi: Hỏi về quy định về điều kiện hưởng lương hưu và cách tính mức hưởng lương hưu. Cách xác định thời gian và mức hưởng lương hưu trí.

Tôi tham gia bảo đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 7 năm 1994 đến tháng 3 năm 2019 và tôi được cộng thêm 3 năm 6 tháng trong quân đội. đến tháng 3 năm 2019 tôi nghỉ chế độ (nghỉ hưu), tôi xin được tư vấn về cách tính bảo hiểm và chế độ lương hưu khi tôi nghỉ. Xin cảm ơn!

Người gửi: Nguyễn Khánh Linh Địa chỉ: Phường Hưng Thành, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 16/05/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 17/05/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, BBT xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Hiện nay, chế độ bảo hiểm xã hội luôn được quan tâm và đặt ra câu hỏi vì số lượng người tham gia bảo hiểm ngày càng tăng. Để giải đáp một phần thắc mắc này, chúng tôi lấy tình huống thực tế từ phía bạn để phân tích, trường hợp được đặt ra cần chuẩn bị những thủ tục gì để hưởng hưu trí? Mức hưởng và các chế độ hưởng hưu trí? bạn có thể tham khảo bài phân tích sau để giải quyết vấn đề của mình.

Bạn tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 7/1994 đến tháng 3/2019 và được cộng thêm 3 năm 06 tháng trong quân đội, tổng số thời gian bạn tham gia bảo hiểm xã hội là 28 năm 04 tháng. Đến tháng 03/2019 bạn nghỉ hưu trí, về mức hưởng bảo hiểm của bạn với chế độ lương hưu trí được tính như thế nào?

Đầu tiên, về điều kiện hưởng chế độ lương hưu căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Luật bảo hiểm xã hội 2014 có quy định:

“Điều 54. Điều kiện hưởng lương hưu

1. Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d, g, h và i khoản 1 Điều 2 của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên thì được hưởng lương hưu nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi;

b) Nam từ đủ 55 tuổi đến đủ 60 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên;

c) Người lao động từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên mà trong đó có đủ 15 năm làm công việc khai thác than trong hầm lò;

d) Người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp

…”.

 

Như vậy, điều kiện để bạn được nghỉ với chế độ hưu trí là bạn phải đủ 60 tuổi đối với nam, nữ đủ 55 tuổi và có 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên đối với trường hợp làm việc trong môi trường bình thường.

Căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014:

“Điều 56. Mức lương hưu hằng tháng

1. Từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành cho đến trước ngày 01 tháng 01 năm 2018, mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 54 của Luật này được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 62 của Luật này tương ứng với 15 năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%.

2. Từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 54 của Luật này được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 62 của Luật này và tương ứng với số năm đóng bảo hiểm xã hội như sau:

a) Lao động nam nghỉ hưu vào năm 2018 là 16 năm, năm 2019 là 17 năm, năm 2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm, từ năm 2022 trở đi là 20 năm;

b) Lao động nữ nghỉ hưu từ năm 2018 trở đi là 15 năm.

Sau đó cứ thêm mỗi năm, người lao động quy định tại điểm a và điểm b khoản này được tính thêm 2%; mức tối đa bằng 75%.

3. Mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 55 của Luật này được tính như quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, sau đó cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 2%.

Trường hợp tuổi nghỉ hưu có thời gian lẻ đến đủ 06 tháng thì mức giảm là 1%, từ trên 06 tháng thì không giảm tỷ lệ phần trăm do nghỉ hưu trước tuổi.

4. Mức lương hưu hằng tháng của lao động nữ đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định tại khoản 3 Điều 54 được tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội và mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội như sau: đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 62 của Luật này. Từ đủ 16 năm đến dưới 20 năm đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm đóng tính thêm 2%.

5. Mức lương hưu hằng tháng thấp nhất của người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 54 và Điều 55 của Luật này bằng mức lương cơ sở, trừ trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 2 và khoản 3 Điều 54 của Luật này.

6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”

 

Theo quy định trên, thời điểm tính hưu trí cho bạn là năm 2019 do đó nếu bạn là nữ bạn đóng được 15 năm đóng bảo hiểm xã hội, nếu bạn là nam bạn đóng được 16 năm đóng bảo hiểm xã hội bạn, bạn được hưởng 45% mức bình quân tiền lương tháng mà bạn đã đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ đóng thêm 01 năm bạn được hưởng thêm 2%. Như vậy bạn đóng được 28 năm 04 tháng, nếu bạn là nữ bạn được hưởng mức hưu trí là 72% mức bình quân tiền lương tháng mà bạn đã đóng bảo hiểm xã hội, nếu bạn là nam bạn được hưởng 70% mức bình quân tiền lương tháng mà bạn đã đóng bảo hiểm xã hội.

Để xác định mức bình quân tiền lương tháng mà bạn đã đóng bảo hiểm xã hội, bạn tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 07/1993, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 62 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014:

“Điều 62. Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu, trợ cấp một lần

1. Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương này thì tính bình quân tiền lương tháng của số năm đóng bảo hiểm xã hội trước khi nghỉ hưu như sau:

a) Tham gia bảo hiểm xã hội trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 05 năm cuối trước khi nghỉ hưu;

…”

 

Theo đó, mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu của bạn là bình quân của tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 05 năm cuối trước khi nghỉ hưu. Bạn căn cứ vào bình quân của tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội 05 năm cuối của bạn là tháng 3/2014 đến tháng 03/2019 để xác định. 

Như vậy, khi nghỉ hưu trí nếu bạn là nữ bạn được hưởng mức hưu trí là 72% bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 3/2014 đến tháng 03/2019 của bạn, nếu bạn là nam bạn được hưởng 70% bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 3/2014 đến tháng 03/2019 của bạn.

Câu hỏi: Hỏi về mua nhầm phải xe có giấy tờ giả, xử lý thế nào? Điều khiển phương tiện giao thông mang giấy tờ giả bị xử lý như thế nào?

Cho em hỏi là em có mua 1 chiếc xe trên chợ tốt và em chỉ lấy cavet và viết giấy tay thôi ạ. Vừa rồi em có bị CSGT bắt em và nói rằng xe em là giấy tờ giả. Vậy xin hỏi nếu xe của em là giấy tờ giả em phải chịu trách nhiệm gì ạ?

Người gửi: An Bảo Quân Địa chỉ: Phường Minh Xuân, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 15/05/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 16/05/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, BBT xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Xe ô tô hay xe máy là một trong những loại tài sản phải đăng ký quyền sở hữu. Tuy nhiên, trên thực tế tình trạng mua đi bán lại loại tài sản này thường được các bên thực hiện khá sơ sài như không làm hợp đồng mua bán, không đăng ký sang tên quyền sở hữu, thậm chí không xem xét đầy đủ giấy tờ khi mua bán dẫn đến không phát hiện ra những trường hợp giấy tờ giả hoặc tài sản mua bán không hợp pháp, không rõ nguồn gốc, xuất xứ. Việc mua bán tài sản có giấy tờ giả ảnh hưởng như thế nào đối với người mua và trường hợp này người mua có phải chịu trách nhiệm gì hay không?

Thứ nhất, về việc mua xe mà chỉ có giấy tờ viết tay

Như đã nêu trên, xe máy hay ô tô đều là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu và để đăng ký quyền sở hữu bạn phải có hợp đồng mua bán có công chứng, chứng thực. Bạn chỉ có giấy tờ viết tay và chưa làm thủ tục sang tên thì khi tham gia giao thông, bạn có thể bị xử phạt theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 30 (xe mô tô) hoặc Khoản 5 Điều 30 (xe ô tô) Nghị định 46/2016/NĐ-CP như sau:

“Điều 30. Xử phạt chủ phương tiện vi phạm quy định liên quan đến giao thông đường bộ

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với cá nhân, từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

b) Không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế tài sản là xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô.

5. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế tài sản là xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng, các loại xe tương tự xe ô tô.”

 

Thứ hai, về việc phát hiện giấy tờ xe là giấy tờ giả

Xe bạn mua chỉ có giấy tờ giả, đồng nghĩa với việc có thể xe của bạn là xe không có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng. Có hai khả năng xảy ra: Một là xe bạn mua là xe thật, không có dấu hiệu phạm tội, chỉ có giấy tờ là giả như mất giấy tờ mà làm giả lại…Hai là, xe bạn mua là do phạm tội mà có như người bán thực hiện hành vi trộm cắp, chiếm đoạt, cướp tài sản…rồi bán lại cho bạn, tùy từng trường hợp mà bạn sẽ bị xử lý khác nhau và việc điều tra chính xác xem ai là chủ phương tiện, ai là người làm giả giấy tờ, phụ thuộc vào cơ quan công an điều tra.

* Trường hợp 1: Xe không có dấu hiệu phạm tội

Nếu kết quả điều tra từ cơ quan công an đưa ra là xe không phải là tang vật của vụ án hình sự, không có dấu hiệu tội phạm mà do người chủ phương tiện làm giả giấy tờ xe thì bạn không bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà chỉ có chủ xe bị xử phạt về Tội làm giải con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan tổ chức theo Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015.

* Trường hợp 2: Xe do phạm tội mà có

Căn cứ theo Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có như sau:

“Điều 323. Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;

d) Thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 10 năm:

a) Tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

b) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Tài sản, vật phạm pháp trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;

b) Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

 

Theo đó, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khám phạm tội mà có được hiểu là người nào không hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản ” biết rõ” là do người khác phạm tội mà có. Nếu kết quả điều tra từ phía cơ quan công an rằng bạn mua chiếc xe này nhưng hoàn toàn không biết đây là tài sản do người bán trộm cắp hoặc phạm tội mà có thì bạn không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nhưng nếu bạn chắc chắn xe này do người bán phạm tội mà có mà bạn vẫn giao dịch mua bán thì bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. 

Ngoài ra, do xe này không thuộc sở hữu của người bán nên giao dịch dân sự mua bán giữa bạn và người bán xe cũng không thỏa mãn các điều kiện giao dịch dân sự. Do đó, giao dịch mua bán xe của bạn được coi là giao dịch dân sự vô hiệu. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu là hai bên sẽ phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bạn phải trả lại xe cho người bán và người bán trả lại tiền cho bạn. Đương nhiên, nếu xe này do phạm tội mà có thì cũng sẽ bị tịch thu theo quy định của pháp luật.

Câu hỏi: Hỏi đáp người vay tiền chết, ai có nghĩa vụ trả nợ? Người vay tiền chết và không còn tài sản để trả nợ có được xóa nợ ngân hàng không?

Xin hỏi: Giá đình mình có 4 người trong hộ khẩu, 2 bố mẹ +mình+em trai mình. Bme mình có vay 2 khoản vay của ngân hàng chính sách +1 nước sạch (12 triệu) +2 vay phát triển (20 triệu) tổng nợ là 32 triệu. Do bố me mất không để lại di chúc, Tài sản để lại cũng không còn. Vậy xin hỏi đối với khoản vay của bố mẹ mình có làm thủ tục xóa nợ được không? Bme mh đứng ra vay theo kiểu hộ giá đình ( 2 ae mh đều trong độ tuổi lao động) E xin chân thành cảm ơn! Mong nhận được sự hồi đáp của luật sư ạ.

Người gửi: Trần Trung Quân Địa chỉ: Phường Quang Trung , TP Tuyên Quang Ngày gửi: 14/05/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 15/05/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, BBT xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Hiện nay nhu cầu vay vốn ngày càng phổ biến nhưng đột nhiên người vay mất không có di chúc hay người thân không ai biết thì người cho vay tiền có đòi lại được tiền không? Đây là câu hỏi mà ai cũng quan tâm khi cho người khác vay tiền nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật.

Theo như bạn trình bày, bố mẹ bạn có vay 2 khoản vay của ngân hàng chính sách + 1 nước sạch (12 triệu) + 2 vay phát triển (20 triệu) tổng nợ là 32 triệu. Do bố mẹ mất không để lại di chúc, tài sản để lại cũng không còn. Trong trường hợp này, ngân hàng vẫn có thể đòi lại được tiền của mình và có thể làm đơn khởi kiện ra Tòa để yêu cầu những người thừa kế của bố mẹ thực hiện việc trả nợ cho ngân hàng.

Theo quy định của pháp luật thì giữa bố mẹ bạn và ngân hàng có xác lập một hợp đồng vay tài sản của hai bên. Căn cứ theo Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 thì hợp đồng vay tài sản có sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Ở đây, bố bạn vay ngân hàng 32 triệu đồng thì khi đến hạn trả, bố bạn có nghĩa vụ phải trả cho ngân hàng số tiền là 32 triệu đồng và tiền lãi theo hợp đồng vay.

Trong trường hợp này, để đảm bảo quyền lợi của người cho vay thì Điều 615 Bộ luật dân sự 2015 đã quy định về những người phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi mà người vay tiền chết theo quy định tại Điều 615 Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như sau:

“1. Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại.

3. Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4. Trường hợp người thừa kế không phải là cá nhân hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.”

Như vậy, theo quy định trên thì khi bố mẹ bạn mất thì nghĩa vụ trả nợ cho bố mẹ bạn sẽ do những người thừa kế của người này thực hiện. Do bố mẹ bạn mất không để lại di chúc thì trách nhiệm trả nợ thuộc về người thừa kế theo pháp luật (có thể là các con, cha mẹ đẻ của người mất). Người thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ tương ứng với phần được chia nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Như vậy, trường hợp mà của bạn việc bố mẹ mất không làm chấm dứt nghĩa vụ trả nợ. Do vậy, khi cha mẹ bạn mất, bạn và những người đồng thừa kế khác có nghĩa vụ trả khoản nợ đó tương ứng với phần được tài sản được nhận. Nếu không còn tài sản để được trả nợ thì gia đình bạn sẽ được xóa nợ theo quy định của pháp luật.

Câu hỏi: Hỏi về thủ tục xác nhận cha cho con và yêu cầu cấp dưỡng. Thẩm quyền giải quyết thủ tục xác nhận cha cho con.

Cháu năm nay chưa tròn 18 tuổi. Cháu cưới vào năm 2016 nhưng chưa được đăng ký kết hôn . Đến ngày 10/5/2018 thì gia đình cháu xảy ra mâu thuẫn. Gia đình Chồng đánh đập đuổi cháu nhưng đến nay gia đình Chồng không nhận con dâu với cháu nội. Vậy bây giờ cháu muốn hỏi là : Cháu có thể đòi hỏi gia đình chồng cung cấp cho con của cháu cho đến khi con của cháu đủ 18 tuổi không ạ?

Người gửi: Trần Thị Lan Anh Địa chỉ: Phường Hưng Thành, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 13/05/2019
Cơ quan trả lời: Ban biên tập Cổng thông tin điện tử
Ngày trả lời: 14/05/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử, Với câu hỏi trên BBT xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Bạn và chồng bạn chưa được đăng ký kết hôn về mặt pháp lý, mới được tổ chức đám cưới theo tập quán. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định pháp luật hôn nhân, gia đình và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định pháp luật thì không có giá trị pháp lý. Tuy nhiên, bạn và chồng không đăng ký kết hôn nhưng không ảnh hưởng đến mối quan hệ cha con giữa ba cháu và cháu. Khoản 4 Điều 69 Luật hôn nhân và gia đình 2014 cũng quy định không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới tính hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ:

Điều 69. Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ

4. Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.”

Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con được quy định theo pháp luật hôn nhân và gia đình như sau:

Điều 110. Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con
“Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.”

Do đó, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cha với con không phân biệt quan hệ hôn nhân của bố mẹ, bố không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Theo quy định trên bố cháu phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu. Để chồng bạn phải chu cấp tiền nuôi dưỡng cháu thì trước hết phải có văn bản của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận chồng bạn là cha đẻ của cháu. Nếu chồng bạn tự nguyện nhận con thì thủ tục xác nhận cha cho con được quy định tại Điều 19 Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của luật hộ tịch.

Điều 19. Đăng ký nhận cha, mẹ, con

1. Ủy ban nhân dân xã ở khu vực biên giới thực hiện đăng ký việc nhận cha, mẹ, con của công dân Việt Nam thường trú tại địa bàn xã đó với công dân của nước láng giềng thường trú tại đơn vị hành chính tương đương cấp xã của Việt Nam, tiếp giáp với xã ở khu vực biên giới của Việt Nam nơi công dân Việt Nam thường trú.
2. Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con xuất trình giấy tờ theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 của Nghị định này và trực tiếp nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân xã; hồ sơ đăng ký nhận cha, mẹ, con gồm các giấy tờ sau đây:

a) Tờ khai nhận cha, mẹ, con theo mẫu quy định;
b) Giấy tờ, tài liệu chứng minh quan hệ cha – con hoặc quan hệ mẹ – con;
c) Bản sao giấy tờ chứng minh nhân thân, chứng minh nơi thường trú ở khu vực biên giới của công dân nước láng giềng.
3. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, công chức tư pháp – hộ tịch kiểm tra hồ sơ, niêm yết việc nhận cha, mẹ, con tại trụ sở Ủy ban nhân dân và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã quyết định. Trường hợp phải xác minh thì thời hạn giải quyết không quá 12 ngày làm việc.
Nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp, công chức tư pháp – hộ tịch ghi nội dung vào Sổ hộ tịch, cùng người có yêu cầu ký, ghi rõ họ tên vào Sổ hộ tịch; Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã ký cấp cho mỗi bên 01 bản chính trích lục hộ tịch.”

Trường hợp chồng bạn và gia đình nhà chồng không muốn nhận con, còn bạn lại muốn xác định chồng bạn là cha của con bạn – như vậy đã có tranh chấp về việc xác định cha cho con. Và theo quy định tại khoản 2 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình 2014 :“Cha, mẹ, con, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 101 của Luật này” và khoản 4 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015  “4. Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ.” thì bạn có quyền làm đơn gửi đến Tòa án quận/huyện nơi cử trú của chồng bạn (trường hợp hai bên thỏa thuận thì có thể nộp đơn tại Tòa án nơi bạn cư trú) yêu cầu xác định chồng bạn là cha của con bạn, đồng thời yêu cầu chồng bạn phải cấp dưỡng cho cháu.

Câu hỏi: Hỏi về việc có bị xử lý tài sản khi không có khả năng trả nợ không? Chưa hết thời hạn chi trả nợ ngân hàng có phát mại tài sản được không?

Mẹ em có vay vốn ngân hàng 2 tỷ đồng để đầu tư vào chăn nuôi heo. Nhưng đến đầu năm 2017 thì giá heo thụt giảm nghiêm trọng và dẫn đên hậu quả là phá sản vì heo. Vì lý do đó mà gia đình không có điều kiện đóng tiền lời hàng tháng cho ngân hàng...Sau mấy tháng không đóng được thì ngân hàng đã phát mại tài sản của gia đình. Nhưng trong hợp đồng vay tín dụng thì năm 2018 mới hết hạn. Như vậy, gia đinh em cần phải làm gì ạ?

Người gửi: Lê Diệp Anh Địa chỉ: Phường Tân Quang, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 12/05/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 13/05/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, Ban biên tập xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Căn cứ theo Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về hợp đồng vay tài sản như sau:

“Điều 463. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”

Về bản chất, vay tiền ngân hàng là một hợp đồng vay tài sản nên cần tuân theo các nguyên tắc của hợp đồng vay tài sản. Theo đó, các bên có quyền tự thỏa thuận với nhau về tài sản cho vay, thời hạn trả, phương thức trả. Khi đến hạn, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại và trả lãi (nếu có).

Mẹ bạn vay vốn của ngân hàng với số tiền là 2 tỷ đồng, thời hạn thanh toán là năm 2018 nhưng do mẹ bạn không có điều kiện đóng tiền lãi hàng tháng cho ngân hàng nên ngân hàng phát mại tài sản của gia đình bạn. Như đã nêu ở trên, hai bên có quyền thỏa thuận về thời hạn trả và bên vay chỉ hoàn thành nghĩa vụ của mình khi đến hạn trả. Việc ngân hàng phát mại tài sản trước thời hạn hợp đồng có đúng hay không thì bạn cần xem xét các điều khoản trong hợp đồng vay của mẹ bạn và ngân hàng. Có hai trường hợp có thể xảy ra:

– Trường hợp 1: Trong hợp đồng hai bên thỏa thuận với nhau nếu mẹ bạn không đóng đủ tiền lãi trong một thời gian nhất định thì ngân hàng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và phát mại tài sản thì việc ngân hàng phát mại tài sản trước năm 2018 là đúng theo hợp đồng và gia đình bạn phải tuân theo.

– Trường hợp 2: Trong hợp đồng không thỏa thuận về điều khoản trên mà chỉ ghi thời hạn thanh toán tiền vay là năm 2018 thì ngân hàng phát mại tài sản của gia đình bạn là trái luật.

Khi tiến hành phát mại tài sản, ngân hàng phải tuân theo quy trình xử lý tài sản bảo đảm.

Căn cứ theo Điều 300 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về việc thông báo xử lý tài sản bảo đảm như sau:

“Điều 300. Thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm

1. Trước khi xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm phải thông báo bằng văn bản trong một thời hạn hợp lý về việc xử lý tài sản bảo đảm cho bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm khác.

Đối với tài sản bảo đảm có nguy cơ bị hư hỏng dẫn đến bị giảm sút giá trị hoặc mất toàn bộ giá trị thì bên nhận bảo đảm có quyền xử lý ngay, đồng thời phải thông báo cho bên bảo đảm và các bên nhận bảo đảm khác về việc xử lý tài sản đó.

2. Trường hợp bên nhận bảo đảm không thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại khoản 1 Điều này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho bên bảo đảm, các bên cùng nhận bảo đảm khác.”

Theo đó, trước phi phát mại tài sản, ngân hàng phải thông báo bằng văn bản trong một thời hạn hợp lý về việc xử lý tài sản bảo đảm cho gia đình bạn. Trường hợp ngân hàng không thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm mà gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra.

Tóm lại, nếu ngân hàng phát mại tài sản thuộc vào trường hợp 2 là trái quy định của pháp luật. Việc không tuân theo điều khoản hợp đồng giữa hai bên và vi phạm quy định về việc thông báo xử lý tài sản bảo đảm nếu gây thiệt hại phải bồi thường cho gia đình bạn. Gia đình bạn có quyền làm đơn khởi kiện tới Tòa án nhân dân cấp quận/huyện để được giải quyết. Kèm theo đơn khởi kiện, bạn cần nộp hợp đồng vay tín dụng và chứng cứ chứng minh thiệt hại của ngân hàng gây ra.

Câu hỏi: Tự ý đăng ảnh người khác lên mạng xã hội có bị xử phạt hay không?

Vừa qua, tôi phát hiện một người quen lợi dụng hình ảnh, thông tin cá nhân của tôi để làm những việc không đúng pháp luật trên mạng xã hội, ảnh hưởng đến cuộc sống của tôi. Cho tôi hỏi, nếu tôi có đủ bằng chứng tố cáo người đó, tôi phải làm như thế nào?

Người gửi: Hoàng Đức Nhã Địa chỉ: Phường Phường Minh Xuân,TP Tuyên Quang Ngày gửi: 10/05/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 11/05/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với câu hỏi trên , BBT xin đưa ra câu trả lời để bạn tham khảo như sau:

 Việc sử dụng hình ảnh, thông tin cá nhân của người khác để đăng tải lên mạng xã hội mà không có sự đồng ý của người có hình ảnh là xâm phạm đến quyền cá nhân đối với hình ảnh và được pháp luật bảo vệ tại Điều 32 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đồng thời, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, người có hình ảnh bị xâm phạm có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người xâm phạm hình ảnh cá nhân của mình phải thu hồi, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật.

Tại điểm e và điểm g Khoản 3 Điều 66 Nghị định 174/2013 quy định rõ: "Phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Thu thập, xử lý và sử dụng thông tin của tổ chức, cá nhân khác mà không được sự đồng ý hoặc sai mục đích theo quy định của pháp luật; Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác".

"Trong trường hợp việc sử dụng hình ảnh, thông tin cá nhân để thu lợi bất chính hoặc với mục đích làm nhục, xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự, gây dư luận xấu làm giảm uy tín của cá nhân thì có thể làm đơn tố giác người có hành vi sử dụng hình ảnh, thông tin cá nhân lên cơ quan Công an nơi người đó cư trú"- Bộ Công an cho hay.

Ngoài ra, tại điểm b Khoản 1 Điều 288 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: Người nào thực hiện hành vi "Mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc công khai hóa thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên mạng máy tính, mạng viễn thông mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó, thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng hoặc gây thiệt hại từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng hoặc gây dư luận xấu làm giảm uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tiền từ 30- 200 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

Tại  khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định rõ Tội làm nhục người khác, trong đó nhấn mạnh: Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10- 30 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm.

Câu hỏi: Hỏi về Hồ sơ - thủ tục trả con dấu giải thể chi nhánh doanh nghiệp

Cho tôi hỏi, đơn vị tôi là chi nhánh của một doanh nghiệp, tôi muốn nộp lại con dấu cho cơ quan Công an để hoàn tất hồ sơ giải thể. Vậy hồ sơ tôi cần chuẩn bị bao gồm những gì? Và thủ tục giải quyết như thế nào?

Người gửi: Trần Tùng Dương Địa chỉ: Phường Nông Tiến TP Tuyên Quang Ngày gửi: 16/04/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 17/04/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời như sau:

Theo quy định tại Điều 44 Luật doanh nghiệp 2014, thì doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu của doanh nghiệp; việc quản lý, sử dụng con dấu và lưu giữ con dấu thực hiện theo quy định của Điều lệ công ty.

Trường hợp chi nhánh của doanh nghiệp giải thể, trả con dấu của chi nhánh doanh nghiệp đã được cơ quan Công an đăng ký trước ngày 01/7/2015, thì doanh nghiệp có công văn gửi cơ quan Công an nơi đã đăng ký mẫu con dấu đề nghị thu hồi con dấu. Người đến liên hệ trả lại con dấu và Giấy chứng nhận đã đăng ký mẫu dấu phải xuất trình thẻ Căn cước công dân hoặc Chứng minh nhân dân để làm thủ tục thu hồi con dấu theo quy định./.

Câu hỏi: Hỏi về công tác tái hòa nhập cộng đồng đối với người được đặc xá

Ở nơi tôi sinh sống có một số người đã từng vi phạm pháp luật và bị kết án tù, trong quá trình chấp hành án phạt tù, họ đã cải tạo tốt và được đặc xá tha tù trước thời hạn. Tôi được biết những người như họ có quyền được giúp đỡ để tái hòa nhập với cộng đồng. Bộ Công an cho tôi hỏi, công tác tái hòa nhập cộng đồng đối với người được đặc xá thời gian qua được thực hiện như thế nào?

Người gửi: Lê Thị Tươi Địa chỉ: Phường Phan Thiêt, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 15/04/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 16/04/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin có ý kiến giúp bạn tham khảo như sau:

Theo báo cáo, các trại giam, trại tạm giam đã tổ chức được 573 lớp chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng cho hơn 82.000 phạm nhân được đề nghị đặc xá với nội dung tư vấn giáo dục những vấn đề cần thiết về chấp hành pháp luật sau khi được đặc xá, xóa án tích, tác hại của ma túy, HIV/AIDS, các thủ tục để đăng ký hộ khẩu, xin cấp chứng minh nhân dân, những kiến thức cơ bản để hòa nhập với cộng đồng…


Các trại giam, trại tạm giam, Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện đã tạo điều kiện thuận lợi để người được đặc xá liên hệ với thân nhân nên ngay sau khi công bố Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước và tha người được đặc xá, hầu hết số phạm nhân được đặc xá đều được thân nhân đến đón và đưa về với gia đình. Số phạm nhân được đặc xá phải tiếp tục chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, các trại giam đã trực tiếp bàn giao cho Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi họ cư trú để tổ chức quản lý, giáo dục theo quy định; đối với những người được đặc xá ốm yếu, không có thân nhân đến đón, trại giam đã tổ chức đưa về và bàn giao cho gia đình người được đặc xá. Số người được đặc xá còn lại không có thân nhân đến đón, các trại giam đã đưa đến bến xe, ga tàu gần nhất để thuận tiện cho họ trở về nơi cư trú. Các trại giam, trại tạm giam, Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện đã cấp cho người được đặc xá tiền tàu xe, tiền ăn, quần áo, giày dép theo đúng chế độ.

Công an các cấp nắm vững hoàn cảnh từng người được đặc xá trở về cộng đồng, gặp gỡ, động viên, quản lý, giáo dục, giúp đỡ họ tái hoà nhập cộng đồng, tránh mặc cảm, xa lánh, đồng thời phối hợp với các cơ quan, tổ chức, đoàn thể xã hội liên hệ với các doanh nghiệp hỗ trợ, tiếp nhận, tạo việc làm cho người được đặc xá ổn định cuộc sống, tránh tái phạm... Bộ Công an đã cùng Mặt trận Tổ quốc, Hội Liên hiệp thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Luật gia Việt Nam phối hợp triển khai công tác tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù, trong đó có người được đặc xá.. Quá trình triển khai công tác tái hòa nhập cộng đồng đã xuất hiện nhiều mô hình tổ chức giúp đỡ người được được đặc xá và người chấp hành xong án phạt tù như: mô hình “Quỹ hoàn lương” của Thành phố Hồ Chí Minh, “Quỹ doanh nhân với an ninh trật tự” của các tỉnh: Thanh Hóa, Đồng Nai, các mô hình của thành phố, tỉnh: Đà Nẵng, Bắc Ninh, Nam Định... Các mô hình này đang được nhân rộng tới nhiều địa phương và nhận được nhiều sự hợp tác của các tổ chức kinh tế, xã hội, các doanh nhân tham gia giúp đỡ người được đặc xá và người chấp hành xong án phạt tù được vay vốn, có việc làm, tạo lập cuộc sống ổn định, hạn chế tái phạm.

Theo báo cáo của Công an các đơn vị, địa phương, trong tổng số hơn 87.000 người được đặc xá, đa số đã về đúng địa chỉ cư trú và đều được Công an địa phương hướng dẫn, đăng ký cư trú, cấp giấy tờ tùy thân; trong đó, gần 50.000 người được đặc xá đã có việc làm và thu nhập ổn định; công tác hòa nhập cộng đồng đã được các cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm và huy động sự tham gia của các ngành, các cấp, các tổ chức đoàn thể, cộng đồng dân cư vào công tác cảm hóa, giúp đỡ người được đặc xá. Tỷ lệ người có hành vi vi phạm pháp luật, tái phạm tội thấp (1.007 người, chiếm tỉ lệ 1,16%).

Câu hỏi: Hỏi về Hành vi xả thải vào nguồn nước khi giấy phép đã hết hạn áp dụng

Công ty tôi chuyên sản xuất túi nilon, chai nhựa, chúng tôi xả nước thải ra hồ nước công cộng với lưu lượng 65m3/một ngày đêm theo giấy phép được cấp. Vừa qua, công ty tôi bị cơ quan chức năng kiểm tra đột xuất và lập biên bản về hành vi xả thải vào nguồn nước khi giấy phép đã hết hạn áp dụng. Cho tôi hỏi, công ty tôi sẽ bị xử phạt như thế nào?

Người gửi: Phạm Tôn Địa chỉ: Phường Ỷ La TP Tuyên Quang Ngày gửi: 15/04/2019
Cơ quan trả lời: Ban biên tập Cổng thông tin điện tử
Ngày trả lời: 16/04/2019

Căn cứ thông tin của bạn đọc Phạm Tôn cung cấp thì Công ty có 01 hành vi vi phạm hành chính cụ thể: Giấy phép xả thải vào nguồn nước hết hạn áp dụng, vi phạm Điểm a Khoản 3 Điều 19 Nghị định 33/2017/NĐ-CP ngày 03/4/2017 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản. Trường hợp không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ (theo quy định tại Khoản 4 Điều 23 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012) Công ty sẽ bị xử phạt 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng), nếu hành vi vi phạm hành chính trên gây ô nhiễm, suy giảm chất lượng nguồn nước, Công ty sẽ bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: “Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm, suy thoái nguồn nước”.

Câu hỏi: Hỏi về đỗ xe chắn trước cửa nhà dân và hành vi phá hoại xe

Gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều đoạn clip ghi lại những vụ việc đập phá xe ô tô vì đỗ xe chắn trước cửa nhà dân. Bên cạnh đó, nhiều chủ nhà cho rằng khoảng không trước cửa nhà cũng thuộc quyền quản lý của mình nên cấm không cho tài xế đỗ xe.Cho tôi hỏi, hành vi đỗ xe chắn trước cửa nhà dân và hành vi phá hoại xe ô tô nêu trên sẽ bị xử phạt như thế nào ?

Người gửi: Nguyễn Hữu Anh Địa chỉ: Phường Mnh Xuân, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 14/04/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 15/04/2019

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến BBT, Với câu hỏi trên BBT Cổng Thông tin điện tử xin có ý kiến giúp bạn tham khảo như sau:

- Theo quy định tại Khoản 1 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ năm 2008: Người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh và chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ. Người điều khiển phương tiện khi dừng xe, đỗ xe trên đường bộ và trên đường phố phải thực hiện theo các quy định tại Điều 18 về dừng xe, đỗ xe trên đường bộ và Điều 19 về dừng xe, đỗ xe trên đường phố. Trường hợp người điều khiển phương tiện vi phạm các quy định liên quan đến dừng xe, đỗ xe thì sẽ bị xử phạt theo Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt. 

Mặt khác, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 cũng đã quy định về việc sử dụng đường phố, các hoạt động khác trên đường phố và trên đường bộ; đồng thời quy định trách nhiệm quản lý Nhà nước về giao thông đường bộ của các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền và Ủy ban nhân dân các cấp.

- Đối với hành vi phá hoại xe ô tô, căn cứ vào tình tiết vụ việc, tính chất, mức độ, hậu quả thiệt hại, lỗi của từng bên có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc giải quyết theo pháp luật dân sự. 

Câu hỏi: Hỏi về Muốn được cai nghiện ma túy tại gia đình thì cần đăng ký như thế nào?

Gia đình C rất đau lòng và lo lắng khi phát hiện ra C đã nghiện ma tuý. Qua báo đài, gia đình C biết được có thể thực hiện cai nghiện ma tuý cho C tại gia đình. Xin hỏi muốn được cai nghiện ma túy tại gia đình thì C và gia đình C cần đăng ký như thế nào?

Người gửi: Lê Thị Thắm Địa chỉ: Phường Nông Tiến , TP Tuyên Quang Ngày gửi: 13/04/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 14/04/2019

BBT Cổng Thông tin điện tử xin trả lời câu hỏi như sau:

Việc đăng ký tự nguyện cai nghiện ma túy tại gia đình được quy định tại Điều 9 Nghị định số 94/2010/NĐ-CP:

- Người nghiện ma túy hoặc gia đình, người giám hộ của người nghiện ma túy chưa thành niên có trách nhiệm đăng ký tự nguyện cai nghiện tại gia đình với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú.

Tổ công tác giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tiếp nhận hồ sơ đăng ký tự nguyện cai nghiện tại gia đình.

- Hồ sơ đăng ký gồm:

a) Đơn đăng ký tự nguyện cai nghiện tại gia đình của bản thân hoặc gia đình, người giám hộ của người nghiện ma túy. Nội dung đơn phải bao gồm các nội dung: tình trạng nghiện ma tuý; các hình thức cai nghiện ma túy đã tham gia; tình trạng sức khỏe; cam kết tự nguyện cai nghiện ma túy tại gia đình;

b) Bản sơ yếu lý lịch của người nghiện ma túy;

c) Kế hoạch cai nghiện cá nhân của người nghiện ma túy.

Câu hỏi: Ký kết Hợp đồng lao động với người lao động đã nghỉ hưu

Xin hỏi tôi muốn ký hợp đồng ba năm với lao động đã nghỉ hưu làm công việc chuyên môn kỹ thuật có được không?

Người gửi: Nguyễn Hải Anh Địa chỉ: Đường Quang Trung, Phường Tân Quang, TP Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày gửi: 28/03/2019
Câu hỏi: Các chế độ bảo hiểm của người lao động nữ trong thời gian nghỉ thai sản

Xin hỏi :Tôi nghỉ thai sản đúng quy định hiện hành là 04 tháng, có hồ sơ hợp lệ. Vậy tôi có phải đóng bảo hiểm y tế trong 4 tháng nghỉ này không?

Người gửi: Nguyễn Phương Anh Địa chỉ: Tổ 8, Phường Hưng Thành, TP Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử
Ngày gửi: 26/03/2019
Câu hỏi: Câu hỏi chính sách theo Nghị định 116/2010/NĐ-CP

Theo tôi được biết, ngày 28/4/2017 Chính phủ đã ban hành Quyết Định số 582/QĐ-TTg phê duyệt thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016- 2020, xin hỏi: Viên chức trạm khuyến nông huyện được giao phụ trách xã thuộc khu vực III tại Quyết Định số 582/QĐ-TTg có được hưởng chính sách theo nghị định 116/2010 hay không? Xin cám ơn!

Người gửi: Ma Bá Thành Địa chỉ: Trạm khuyến nông huyện Chiêm Hóa
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Nội vụ
Ngày gửi: 23/03/2018
Câu hỏi: Thủ tục giấy phép xây dựng nhà ở

Mảnh đất nhà tôi đang ở ngày trước thuộc quản lý của Rạp Chiếu bóng, giờ bàn giao lại cho UBND huyện (Sơn Dương) quản lý. Trước gia đình tôi mua lại căn nhà của cơ quan và tham gia đóng thuế đất từ trước năm 1990. Hiện nay nhà ở của gia đình tôi xuống cấp nghiêm trọng có thể sụp đổ bất cứ lúc nào. Tôi muốn sửa chữa lại có được không? nếu được cần làm những thủ tục gì?

Mảnh đất đó có đủ điều kiện để cấp sổ đỏ hay không và nếu thu hồi lại, gia đình tôi có được cắm lại chỗ ở mới không?

Tôi xin chân thành cám ơn!

Người gửi: Đinh Gia Huyên Địa chỉ: Tổ dân phố Quyết Thắng, TT. Sơn Dương, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Tài nguyên và Môi trường
Ngày gửi: 21/02/2018
Câu hỏi: Hỏi về làm đường

Tôi là Nguyễn Thị Quý, công dân tổ 40, phường Minh Xuân, thành phố Tuyên Quang. Tôi xin hỏi 1 việc như sau: Tổ 40 là nơi ra đời chi bộ Mỏ Than (chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh). Tuy nhiên con đường Nguyễn Thị Minh Khai, đặc biệt là đường vào ngõ 38 qua khu dân cư nơi đây đã xuống cấp nghiêm trọng gần chục năm nay. Mặt đường ngay phía trước nhà tôi lởm chởm toàn đá, ổ gà. Ngay phía đầu ngõ rẽ từ Tỉnh ủy xuống còn 1 phần taluy bằng đất gò ụ nhô ra dài hàng chục mét che khuất tầm nhìn, nguy hiểm cho người tham gia giao thông. Hơn nữa hai năm trở lại đây trong khu dân cư có nhiều hộ xây, sửa nhà cửa khiến cát sỏi trôi ra đường rất nhiều, phương tiện tham gia giao thông khi tránh nhau thường bị trượt cát loạng choạng mà ngã. Đã có rất nhiều người ngã xe, va chạm giao thông bị thương phải đưa đi sơ cứu tại bệnh viện. 

Người dân trong tổ đã kiến nghị nhiều lần đến cấp có thẩm quyền, và đã nhiều lần được hứa sẽ sớm làm con đường này. Nhân dân trong tổ tin tưởng lời hứa của cấp có thẩm quyền, nhưng mong mỏi từ năm này qua năm khác mà con đường vẫn ngày càng xuống cấp nghiêm trọng. Hôm nay tôi đưa câu hỏi này đến Cổng Thông tin điện tử tỉnh đề nghị được cấp có thẩm quyền trả lời bao giờ thì con đường qua tổ 40 Minh Xuân, nơi ra đời chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh được khởi công xây dựng đáp ứng niềm mong mỏi của nhân dân.

Tôi mong nhận được phản hồi sớm. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Nguyễn Thị Quý Địa chỉ: Tổ 40, phường Minh Xuân, thành phố Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Giao thông vận tải
Ngày gửi: 17/01/2018
Câu hỏi: Việc làm cho sinh viên cử tuyển

Nhờ Ban Biên Tập chuyển lời hộ em. 

Theo NĐ-CP số 134/2006 Tại chương III Điều 11 có ghi rõ về việc tiếp nhận, phân công công tác cho người được cử đi học theo chế độ cử tuyển sau khi tốt nghiệp. Và trong khoản 1 điều 11 có ghi rõ là "Hàng năm, các cơ sở giáo dục gửi danh sách, bàn giao hồ sơ và bằng tốt nghiệp của người học theo chế độ cử tuyển tốt nghiệp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh". Vậy cho em hỏi,  Em là sinh viên trường ĐHXD Hà Nội tốt nghiệp năm 2015 và sau khi ra trường không thấy Sở Giáo dục bàn giao hồ sơ của em cho UBND tỉnh để phân công công tác theo chế độ cử tuyển. Em xin cảm ơn.

Người gửi: Đặng Bùi Anh Đức Địa chỉ: Yên Sơn tuyên quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Nội vụ
Ngày gửi: 15/10/2017
Câu hỏi: Về việc chợ Phan Thiết tràn lan ra đường phố

Từ khi xây dựng lại chợ Phan Thiết (ngay trung tâm thành phố, gần Tỉnh uỷ), bà con tràn ra đường (đường Hồng Thái) buôn bán, rác thải, nước thải vứt ra đầy đường rất mất vệ sinh; những hộ gia đình nằm trong khu vực này, trong đó có gia đình tôi và các tổ 15,7,16,...rất bất tiện trong việc di chuyển, đôi khi còn bị người bán hàng chửi bới, đánh đập vì đi ô tô vào đây.

Vấn đề này tôi cũng đã thấy chính quyền (UBND phường Phan Thiết) có thời gian xử lý, nhưng xử lí không triệt để (cụ thể: không thu hàng hoá của người sai phạm, cho bán hàng nửa bên trong chợ từ khách sạn Thành Trung vào trong nhưng người bán hàng vẫn lấn ná ra ngoài, chỉ thực hiện được 1 thời gian ngắn xong lại đâu vào đấy...).

Vậy tôi xin hỏi trách nhiệm giải tán khu chợ tạm này thuộc về ai hay cơ quan chức năng nào và bao giờ thì xử lí xong?

Đề nghị cơ quan đó có phương án giải tán khu vực trên, xử lí rác thải, nước thải rõ ràng để tình hình cuộc sống của chúng tôi trở lại bình thường.

Tôi xin chân thành cảm ơn các vị lãnh đạo tỉnh đã lắng nghe!

Người gửi: Trần Văn Khải Địa chỉ: Tổ 16, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Thành phố Tuyên Quang
Ngày gửi: 21/09/2017
Câu hỏi: Lập dự toán xây dựng công trình quy mô nhỏ

Tại điểm a khoản 1 Điều 82 Luật xây dựng năm 2014 quy định thẩm quyền thẩm định thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công và dự toán xây dựng: “Đối với công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước: Cơ quan chuyên môn về xây dựng theo phân cấp chủ trì thẩm định thiết kế kỹ thuật, dự toán xây dựng trong trường hợp thiết kế ba bước; thiết kế bản vẽ thi công, dự toán xây dựng trong trường hợp thiết kế hai bước”.

Như vậy, đối với Báo cáo kinh tế - kỹ thuật (thiết kế một bước), Luật Xây dựng năm 2014 không quy định thẩm định thiết kế bản vẽ thi công và dự toán xây dựng.

Các công trình trên địa bàn huyện (UBND huyện là chủ đầu tư) phần lớn là thiết kế một bước (chủ yếu dưới 03 tỷ đồng). Tuy nhiên trong dự toán các công trình (thiết kế 01 bước) lại có chi phí thẩm tra thiết kế và chi phí thẩm tra dự toán. Cho hỏi việc tính chi phí như vậy có đúng không?

Tệp đính kèm: Tải về
Người gửi: Cường Anh Địa chỉ: Na Hang, Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Xây dựng
Ngày gửi: 06/09/2017
Câu hỏi: Chế độ của cử tuyển

Tôi là sinh viên cử tuyển của tỉnh Tuyên Quang, tôi học trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội. Trong quyết định cử tôi đi học từ năm 2004 đến năm 2009 có ghi rõ là sau khi tôi tốt nghiệp ra trường tôi sẽ phải về tỉnh công tác theo sự phân công công tác của Chủ tịch UBND Tỉnh. Tôi muôn hỏi tại sao từ khi tốt nghiệp ra trường đến nay vẫn chưa được phân công công tác?

Tệp đính kèm: Tải về
Người gửi: Ma Thị Chinh Địa chỉ: Xã Yên Thuận - Huyện Hàm Yên - Tỉnh Tuyên Quang
Câu hỏi đã được gửi tới: Sở Nội vụ
Ngày gửi: 04/08/2017
Lưu ý: Bạn phải nhập đầy đủ, chính xác các thông tin để Ban biên tập thuận lợi trong việc liên lạc, hỗ trợ.
(Các ô có dấu (*) bắt buộc phải nhập dữ liệu)
Mã bảo vệ
Retype the CAPTCHA code from the image
Change the CAPTCHA codeSpeak the CAPTCHA code
 
Hiện nay, do số lượng câu hỏi gửi về BBT Cổng Thông tin điện tử nhiều, vì vậy, BBT chỉ trả lời các câu hỏi có nội dung rõ ràng, ngắn gọn, không sai lỗi chính tả, điền đầy đủ các thông tin và không trùng lặp với các câu hỏi hoặc câu trả lời đã có. Nếu trường hợp nội dung câu hỏi dài thì soạn thảo thành định dạng word và gửi theo file đính kèm. Thời hạn trả lời là 20 ngày (đối với các câu hỏi phải gửi tới các ngành liên quan).

BBT CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH TUYÊN QUANG