Câu hỏi: Hỏi về tiền polime bị cháy có được đem đến ngân hàng đổi không?

Cho em hỏi ! Tiền polime bị cháy có được đem đến ngân hàng đổi không ạ? Khi đổi thì mình có cần đóng phí không ạ? Và số tiền nhận lại được so với số tiền đem đến đổi là như thế nào ạ? 

Người gửi: Lê Hậu Địa chỉ: Phường Nông Tiến, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 07/08/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 08/08/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Theo quy định tại khoản 1, Điều 3 Thông tư 25/2013/TT-NHNN thì tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông là các loại tiền giấy (tiền cotton và tiền polymer), tiền kim loại do Ngân hàng Nhà nước phát hành, đang lưu hành nhưng bị rách nát, hư hỏng hay biến dạng theo quy định về tiêu chuẩn tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông được quy định tại Thông tư này.

Và tiêu chuẩn tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông được quy định tại Điều 4 Thông tư số 25/2013/TT-NHNNnhư sau:

“Điều 4. Tiêu chuẩn tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

2. Tiền rách nát, hư hỏng do quá trình bảo quản (nhóm nguyên nhân chủ quan):

a) Tiền giấy bị thủng lỗ, rách mất một phần; tiền được can dán; cháy hoặc biến dạng do tiếp xúc với nguồn nhiệt cao; giấy in, màu sắc, đặc điểm kỹ thuật bảo an của đồng tiền bị biến đổi do tác động của hóa chất (như chất tẩy rửa, axít, chất ăn mòn…); viết, vẽ, tẩy xóa; đồng tiền bị mục hoặc biến dạng bởi các lý do khác nhưng không do hành vi hủy hoại.

Như vậy, tiền polime bị cháy tức là tiền này không đủ tiêu chuẩn để lưu thông theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 4 Thông tư số 25/2013/TT-NHNN. Trong trường hợp này, theo quy định tại khoản 2, Điều 6 Thông tư 25/2013/TT-NHNN thì đối với tiền polime bị cháy, bạn phải nộp hiện vật cho Ngân hàng Nhà nước chi nhánh, Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, đơn vị thu đổi. 

Các đơn vị nhận tiền của bạn sẽ xem xét đổi tiền cho bạn khi đáp ứng các điều kiện sau:

– Tiền rách nát, hư hỏng không phải do hành vi hủy hoại;

– Tiền polymer bị cháy hoặc biến dạng co nhỏ lại do tiếp xúc với nguồn nhiệt cao, thì diện tích còn lại tối thiểu phải bằng 30% so với diện tích tờ tiền cùng loại và còn giữ nguyên bố cục một tờ tiền, đồng thời nhận biết được ít nhất hai trong các yếu tố bảo an như: yếu tố hình ẩn trong cửa sổ nhỏ, mực không màu phát quang, phát quang hàng số sêri, dây bảo hiểm, yếu tố IRIODIN, chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Như vậy, nếu tiền polime bị cháy của bạn đáp ứng các điều kiện trên thì Ngân hàng Nhà nước chi nhánh, Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, đơn vị thu đổi sẽ thực hiện việc đổi tiền cho bạn và không có thu khoản phí nào. Nếu không đủ điều kiện được đổi nêu trên, phía Ngân hàng sẽ trả lại tiền cho bạn và thông báo lý do. Trường hợp các tờ tiền chưa xác định được điều kiện đổi và cần giám định, bạn phải có giấy đề nghị đổi tiền.

 

Câu hỏi: Hỏi về làm đứt cáp viễn thông có bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Xin hỏi! Hôm qua tôi có điều khiển một chiếc xe tải trên phố và đã làm đứt một đoạn dây cáp của bên công ty Viettel. Vậy tôi sẽ bị xử lý như thế nào ạ? Có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không ạ? Mong sớm nhận được phản hồi ! Xin cảm ơn!

Người gửi: Trần Uyên Địa chỉ: Phường Tràng Đà, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 06/08/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 07/08/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 604, Bộ luật Dân sự 2005 thì người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Theo đó, theo nội dung được quy định tại Điều 608, Bộ luật Dân sự 2005 thì trong trường hợp tài sản bị xâm phạm thì thiệt hại được bồi thường bao gồm:

1. Tài sản bị mất;

2. Tài sản bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng;

3. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản;

4. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.

Như vậy, trong trường hợp này, bạn chỉ phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho phía công ty Viettel, và đương nhiên nghĩa vụ bồi thường của bạn trong hoàn cảnh này chỉ dừng lại ở trách nhiệm dân sự mà bạn hoàn toàn không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, ngoài việc bồi thường thiệt hại cho phía công ty Viettel bạn còn phải chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 2.000.000 đến 3.000.000 đồng nếu như phương tiện của bạn của bạn chở hàng vượt quá chiều cao xếp hàng cho phép đối với xe ô tô tải thùng hở (không mui); chở hàng vượt quá chiều cao theo thiết kế của xe hoặc thiết kế cải tạo đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt đối với xe ô tô tải thùng kín (có mui) (điểm b khoản 4 Điều 24, Nghị định 171/2013/NĐ-CP). Theo đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 17, Thông tư 07/2010/TT-BGTVT thì giới hạn chiều cao bốc xếp hàng hóa đối với xe tải như sau:

Xe có tải trọng trên 5 tấn

Chiều cao tối đa là 4,2 mét

Xe có tải trọng từ 2,5 tấn đến 5 tấn

Chiều cao tối đa là 3,5 mét

Xe có tải trọng dưới 2,5 tấn

Chiều cao tối đa là 2,8 mét

 

 

Câu hỏi: Hỏi về việc viên chức sinh con thứ ba xử lý như thế nào?

Cho Tôi hỏi! Tôi là viên chức nhà nước, chuẩn bị sinh con thứ ba. Xin hỏi hiện tại có những quy định để xử lý gì cho trường hợp này? Trân trọng cảm ơn!

Người gửi: Tạ Minh Địa chỉ: Phường Nông Tiến, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 04/08/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 05/08/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Trước đây khi thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình nhà nước có chủ trương cấm sinh con thứ 3 đối với công nhân viên chức. Nếu sinh con thứ 3 thì sẽ chịu xử phạt hành chính phạt tiền, tước quyền sử dụng giấy phép, tước chứng chỉ hành nghề, cấm đảm nhiệm chức vụ, hay bị khiển trách kỷ luật của cơ quan nơi người đó đang đảm nhiệm chức vụ, đang công tác.

Tuy nhiên, khi Nghị định 176/2013/NĐ-CP có hiệu lực kể từ 31/12/2013 ra đời, thay thế Nghị định 114/2006/NĐ-CP (đã hết hiệu lực thi hành) về xử phạt vi phạm hành chính về dân số và trẻ em đã không đề cập gì đến việc xử lý việc sinh con thứ ba nữa.

Có nghĩa là pháp luật hiện tại không cấm việc sinh con thứ 3 đối với cán bộ, công chức, viên chức. Tuy nhiên, hình thức xử lý cụ thể cho mỗi cán bộ, công chức, viên chức vi phạm được thực hiện theo quy định trong nội quy, quy chế làm việc của cơ quan, đơn vị đó đề ra nên cần tham khảo nội quy tại cơ quan người sinh con thứ ba đang làm việc. Vì vậy, bạn cần xem lại nội quy của cơ quan mình xem có quy định về vấn đề xử phạt viên chức sinh con thứ 3 hay không.

Câu hỏi: Hỏi về ly hôn thuận tình có được vắng mặt không ? vắng mặt tòa án có giải quyết không?

Hai vợ chồng tôi ly hôn đơn phương, tôi ly hôn chồng tôi, nay tòa án đã thụ lý và có thông báo triệu tập lên hòa giải, tuy nhiên ngày tôi phải lên tòa lại là ngày mà công việc của tôi không thể nghỉ được, nên cho tôi hỏi nếu tôi không lên thì tòa án có xét xử hay không? có giải quyết nữa hay không? mong nhận được tư vấn phản hồi.

Người gửi: Nguyễn An Địa chỉ: Phường Tân Hà, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 03/08/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 04/08/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Theo Luật hôn nhân và gia đình 2014, thì:

Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn.

Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này.

Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Thế nào là ly hôn đơn phương? Tòa án thụ lý ly hôn khi nào?

Ai có quyền yêu cầu Tòa Án giải quyết cho ly hôn?

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ, chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Đơn phương ly hôn là như thế nào? khi nào Tòa Án mới thụ lý?

Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình 2014thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

 Ly hôn đơn phương nguyên đơn vắng mặt có được không? vắng mặt hai lần có được ly hôn không?

Khác với ly hôn đơn phương một bên là nguyên đơn một bên là bị đơn, ly hôn thuận tình hai bên đương sự đều là nguyên đơn, điều gì sẽ xảy ra nếu nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa?

Nguyên đơn vắng mặt một lần:

Theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 có quy định thì: Hội đồng xét xử sẽ được thực hiện việc hoãn phiên tòa trong những trường hợp sau đây:

- Khi có yêu cầu thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên và việc này là bắt buộc phải thực hiện;

- Khi phải thay đổi người giám định, người phiên dịch;

- Khi đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, vắng mặt lần thứ nhất tại phiên tòa hoặc vắng mặt lần thứ hai nhưng do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Cả hai lần vắng mặt này đều không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;

- Khi người làm chứng vắng mặt gây khó khăn, ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quan, toàn diện vụ án tại phiên tòa;

Thời hạn tạm hoãn phiên tòa trong các trường hợp trên không quá 01 tháng, đối với phiên tòa xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn là không quá 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa.

Trường hợp sau khi hoãn phiên tòa mà Tòa án không thể mở lại phiên tòa đúng thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa ghi trong quyết định hoãn phiên tòa thì Tòa án phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người tham gia tố tụng về thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa.

Nguyên đơn vắng mặt hai lần?

Theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 thì nếu nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự:

Sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau đây:

- Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế;

- Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó;

- Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan;

- Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó;

- Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này.

- Trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

- Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết;

- Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự mà Tòa án đã thụ lý;

- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không đề nghị xét xử vắng mặt và trong vụ án đó có bị đơn yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì giải quyết như sau:

- Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án;

- Bị đơn không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu phản tố thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị đơn trở thành nguyên đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn;

- Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người nào bị khởi kiện theo yêu cầu độc lập trở thành bị đơn.

Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu có yêu cầu; trong trường hợp này, Tòa án phải sao chụp và lưu lại để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu.Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp. Đối với vụ án được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm mà Tòa án quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án thì Tòa án đồng thời phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan (nếu có); trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì việc đình chỉ giải quyết vụ án phải có sự đồng ý của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

=> Như vậy có nghĩa là, trong ly hôn đơn phương hay còn gọi là ly hôn từ một phía, nếu bạn vắng mặt lần một thì tòa án tạm hoãn phiên tòa, nếu vắng mặt lần thứ hai nếu không có lý do chính đáng thì tòa án tiến hành đình chỉ giải quyết vụ án.

Câu hỏi: Hỏi về giấy khai sinh bị sai điều chỉnh thế nào?

Cho em hỏi: Trong giấy khai sinh của em có thông tin của cha và mẹ em bị sai cụ thể ở đây là sai năm sinh, không hề giống với giấy tờ gốc của bố mẹ em ( giấy khai sinh và chứng minh nhân dân). Rất mong nhận được câu trả lời ạ !

Người gửi: Trần Hồng Địa chỉ: Phường Phan Thiết TP Tuyên Quang Ngày gửi: 02/08/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 03/08/2019

Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn cần xác định rõ một số nội dung sau để giải quyết vấn đề của mình:

Thứ nhất là căn cứ và điều kiện để điều chỉnh thông tin trên giấy khai sinh:

Trước tiên bạn cần hiểu rằng: Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của cá nhân. Nên mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung về họ, chữ đệm, tên; ngày, tháng, năm sinh ; giới tính; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh của người đó. ( giấy khai sinh của bạn chưa phù hợp với thông tin của bố mẹ bạn trên giấy khai sinh của họ nên cần được điều chỉnh). Trường hợp nội dung trong hồ sơ, giấy tờ cá nhân khác với nội dung trong Giấy khai sinh của người đó thì Thủ trưởng cơ quan, tổ chức quản lý hồ sơ hoặc cấp giấy tờ có trách nhiệm điều chỉnh hồ sơ, giấy tờ theo đúng nội dung trong Giấy khai sinh.

Đối chiếu với quy đinh của Điều 7 Nghị định 123/2015/NĐ-CP về hướng dẫn Luật hộ tịch năm 2014 về Điều kiện thay đổi, cải chính hộ tịch như sau:

1. Việc thay đổi họ, chữ đệm, tên cho người dưới 18 tuổi theo quy định tại Khoản 1 Điều 26 của Luật Hộ tịch phải có sự đồng ý của cha, mẹ người đó và được thể hiện rõ trong Tờ khai; đối với người từ đủ 9 tuổi trở lên thi còn phải có sự đồng ý của người đó.

2. Cải chính hộ tịch theo quy định của Luật Hộ tịch là việc chỉnh sửa thông tin cá nhân trong Sổ hộ tịch hoặc trong bản chính giấy tờ hộ tịch và chỉ được thực hiện khi có đủ căn cứ để xác định có sai sót do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch hoặc của người yêu cầu đăng ký hộ tịch.

Như vậy để cải chỉnh hay chính là điều chỉnh thông tin trong giấy khai sinh cũng như việc chỉnh sửa thông tin cá nhân trong Sổ hộ tịch chỉ được thực hiện nếu có căn cứ xác định có sai sót của công chức tư pháp hộ tịch hoặc người yêu cầu đăng ký hộ tịch. Mà bạn có nêu rằng thông tin của bạn có sự sai sót so với giấy tờ gốc của bố mẹ bạn về ngày tháng năm sinh trên giấy khai sinh của bạn. Mặc dù chưa xác định được rõ là sai sót là của bên công chức tư pháp hộ tịch hay do bên người nhà bạn, nhưng đã có cơ sở để xác định sai sót nên bạn vẫn sẽ cải chính được thông tin trên giấy khai sinh của bạn, nếu bạn làm theo các bước tiêp theo.

Thứ hai, hồ sơ cần có khi yêu cầu điều chỉnh thông tin hộ tịch ( trên giấy khai sinh)

+ Tờ khai cải chính hộ tịch theo mẫu quy định.

+ Các giấy tờ liên quan ( hộ khẩu, chứng minh nhân dân, học bạ, bằng tốt nghiệp, lý lịch cán bộ, lý lịch đảng viên...)

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

 
   

TỜ KHAI ĐĂNG KÝ VIỆC THAY ĐỔI, CẢI CHÍNH,
BỔ SUNG HỘ TỊCH, XÁC ĐỊNH LẠI DÂN TỘC

 

Kính gửi: (1) .......................................................................................................................

 

Họ, chữ đệm, tên người yêu cầu:.......................................................................................................................................

Nơi cư trú: (2)..........................................................................................................................................................................

Giấy tờ tùy thân: (3)................................................................................................................................................................

Quan hệ với người đề nghị được thay đổi, cải chính, xác định lại dân tộc, bổ sung hộ tịch:....................

Đề nghị cơ quan đăng ký việc (4) ........................................ ................................................................................

cho người có tên dưới đây

Họ, chữ đệm, tên: ........................................................................................... Giới tính:................

Ngày, tháng, năm sinh:.......................................................................................................................

Dân tộc:............................................................................Quốc tịch:............................................................

Giấy tờ tùy thân: (3).......................................................................................................................................

Nơi cư trú: (2) .................................................................................................................................................

Đã đăng ký (5) ..................... ngày......... tháng ......... năm ................ tại số: .......... Quyển số:...................... của .................................................................................................................

Từ: (6)..................................................................................................................................................

..............................................................................................................................................................

Thành:..................................................................................................................................................

Lý do:.....................................................................................................................................................

................................................................................................................................................................

Tôi cam đoan những nội dung khai trên đây là đúng sự thật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về cam đoan của mình.

Làm tại: .............................................. , ngày .......... tháng ......... năm ...........

Người yêu cầu

(Ký, ghi rõ họ, chữ đệm, tên)

 

Ý kiến của người được thay đổi họ, tên(nếu người đó từ đủ 9 tuổi trở lên)

xác định lại dân tộc (nếu người đó từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi)

 

 

 

 

 

Ý kiến của cha và mẹ

(nếu thay đổi họ, chữ đệm, tên cho người dưới 18 tuổi)

 

 

 

 

 

Chú thích:

1. Ghi rõ tên cơ quan đăng ký việc thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính trong Giấy khai sinh.

2. Ghi theo địa chỉ đăng ký thường trú; nếu không có nơi đăng ký thường trú thì ghi theo địa chỉ đăng ký tạm trú; trường hợp không có nơi đăng ký thường trú và nơi đăng ký tạm trú thì ghi theo nơi đang sinh sống.

3. Ghi thông tin về giấy tờ tùy thân như: hộ chiếu, chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ hợp lệ thay thế (ví dụ: Chứng minh nhân dân số 001089123 do Công an thành phố Hà Nội cấp ngày 20/10/2004).

4. Ghi rõ loại việc thực hiện (ví dụ: thay đổi Họ).

5. Ghi rõ loại việc hộ tịch đã đăng ký trước đây. Ví dụ: khai sinh ngày 05 tháng 01 năm 2015 tại số 10 quyển số 01/2015 của UBND xã Hà Hồi, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội.

6. Ghi rõ nội dung thay đổi, cải chính, xác định lại dân tộc ví dụ: từ Nguyễn Văn Nam thành Vũ Văn Nam;

Trường hợp bổ sung hộ tịch thì ghi rõ nội dung đề nghị bổ sung. Ví dụ: bổ sung phần ghi về quê quán trong Giấy khai sinh như sau: Nghệ An.

Thứ ba, Cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc điều chỉnh thông tin hộ tịch:

Tùy theo độ tuổi của bạn để xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết cho bạn cụ thể là:

1. Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký hộ tịch trong các trường hợp sau:

a) Đăng ký sự kiện hộ tịch quy định tại các điểm a, b, c, d và e khoản 1 Điều 3 của Luật này cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước;

b) Đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi; bổ sung thông tin hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước;

c) Thực hiện các việc hộ tịch theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 3 của Luật này;

d) Đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra tại Việt Nam có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam thường trú tại khu vực biên giới, còn người kia là công dân của nước láng giềng thường trú tại khu vực biên giới với Việt Nam; kết hôn, nhận cha, mẹ, con của công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam; khai tử cho người nước ngoài cư trú ổn định lâu dài tại khu vực biên giới của Việt Nam.

2. Ủy ban nhân dân cấp huyện đăng ký hộ tịch trong các trường hợp sau, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều này:

a) Đăng ký sự kiện hộ tịch quy định tại khoản 1 Điều 3 của Luật này có yếu tố nước ngoài;

b) Đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú ở trong nước; xác định lại dân tộc;

c) Thực hiện các việc hộ tịch theo quy định tại khoản 3 Điều 3 của Luật này.

Thứ tư, Thời hạn giải quyết việc điều chỉnh thông tin hộ tịch: chưa được quy định cụ thể là bao lâu, nhưng về nguyên tắc chung thì cán bộ tiếp nhận sẽ phải giải quyết phù hợp với lợi ích của người dân trong thời gian ngắn nhất.

Thứ năm, lệ phí khi thay đổi thông tin hộ tịch ( trên giấy khai sinh): việc thu lệ phí là theo quy định của từng tỉnh sẽ có quy định riêng, bạn chưa nêu bạn ở tỉnh nào, tôi lấy một ví dụ cụ thể như thế này: nếu cải chỉnh thông tin hộ tịch ở thành phố Hà Nội:

c. Mức thu lệ phí:

- Đối với các việc đăng ký hộ tịch thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã:

7

Thay đổi, cải chính hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi, bổ sung hộ tịch

đ/1 việc

5.000

- Các việc đăng ký hộ tịch thuộc thẩm quyền cấp huyện

4

Thay đổi, cải chính hộ tịch cho người từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú ở trong nước, xác định lại dân tộc

đ/1 việc

25.000

Câu hỏi: Hỏi về cho mượn chứng minh thư để mở tài khoản ngân hàng có rủ roi gì?

Tôi có cho bạn mượn chứng minh nhân dân để đi làm thẻ ngân hàng có đứng tên của tôi, chỉ duy nhất số điện thoại là của cô ấy. Không biết là hành vi của tôi có sai pháp luật không và có phái liên đới chịu trách nhiệm khi xảy ra hành vi trái pháp luật không?

Người gửi: Võ Tiến Đạt Địa chỉ: Phường Nông Tiến, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 01/08/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 02/08/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Thời gian gần đây, thẻ ATM ảo đang bùng nổ, rất nhiều trường hợp bạn bè, người thân mượn chứng minh nhân dân để mở tài khoản ngân hàng dù mình không có nhu cầu. Chính vì vậy, ngân hàng khó có thể kiểm soát được mục đích sử dụng của việc mở thẻ ngân hàng của các đối tượng. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là khi bạn mở tài khoản ngân hàng đứng tên của mình nhưng lại giao thẻ cho người khác sử dụng tức là mở thẻ hộ người khác nhưng thông tin hoàn toàn là của mình. Điều này đẫn đến một loạt hệ lụy về sau. Cụ thể:

Thứ nhất, người mở tài khoản ngân hàng có thể phải chịu các khoản nợ phát sinh trên thẻ mình mở ra. Bởi lẽ có nhiều thẻ mở ra để nhằm mục đích vay tín dụng với các mức dư nợ khác nhau. Và khi ký kết với ngân hàng, chủ tài khoản đương nhiên chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ phát sinh từ tài khoản ngân hàng đã lập. Tùy từng trường hợp, nếu ngân hàng xảy ra thiệt hại thì chủ tài khoản sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường. Nếu biết rõ người nhờ mở thẻ để thực hiện hành vi phạm tội thì tùy từng trường hợp có thể bị xử lý về hành vi đồng phạm giúp sức. Bởi lẽ nếu không vì mục đích bất chính thì không cần sử dụng đến thông tin của người khác để mở các loại tài khoản.

Người cho mượn chứng minh nhân dân để mở tài khoản ngân hàng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một trong các tội sau:

- Tội rửa tiền: 1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: 

+ Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào giao dịch tài chính, ngân hàng hoặc giao dịch khác nhằm che giấu nguồn gốc bất hợp pháp của tiền, tài sản do mình phạm tội mà có hoặc biết hay có cơ sở để biết là do người khác phạm tội mà có; 

+ Sử dụng tiền, tài sản do mình phạm tội mà có hoặc biết hay có cơ sở để biết là do người khác thực hiện hành vi phạm tội mà có vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động khác; 

+ Che giấu thông tin về nguồn gốc, bản chất thực sự, vị trí, quá trình di chuyển hoặc quyền sở hữu đối với tiền, tài sản do mình phạm tội mà có hoặc biết hay có cơ sở để biết là do người khác phạm tội mà có hoặc cản trở việc xác minh các thông tin đó; 

+ Thực hiện một trong các hành vi quy định tại các điểm a, b và c khoản này đối với tiền, tài sản biết là có được từ việc chuyển dịch, chuyển nhượng, chuyển đổi tiền, tài sản do người khác thực hiện hành vi phạm tội mà có.

- Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017:

Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

+ Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

+) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

+ Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

Trong các trường hợp này thì rất khó để người cho mượn thông tin để đănng ký tài khoản ngân hàng, bởi lẽ giữa người mượn và người cho mượn không hề giao kết với nhau hay có sự ghi nhận nào khác về sự thỏa thuận đứng tên trên tài khoản ngân hàng. Do đó, việc chứng minh mình không liên quan cũng như không có sự tham dự vào các hành vi của người phạm tội là rất khó.

Thứ hai, về giải pháp khắc phục: Để tránh những rủi ro không đáng có, nếu đxa lỡ đứng ra mở hộ tài khảo ngân hàng cho người khác sử dụng bằng tên của mình thì phải báo với ngân hàng để tránh các rủi ro phát sinh và có thể yêu cầu ngân hàng khóa thẻ.

Câu hỏi: Hỏi về chủ nhà trọ có được phép tăng tiền điện trong thời gian thuê nhà không?

Cho em hỏi!  Em thuê nhà ở, trong hợp đồng thuê nhà thì không ghi giá cả điện nước, nhưng lúc làm hợp đồng em có hỏi chủ nhà cụ thể là tiền điện, nước vẫn tính theo giá nhà nước( là khoảng 1 ngàn mấy/ kw) đúng không ? chủ nhà trả lời vẫn tính như cũ. Vậy mà em thuê mới đc 3 tháng thì chủ nhà lại qua nói tiền điện tăng lên 2.500/kw trong khi hợp đồng chưa hết thời hạn 1 năm, vậy là đúng hay sai vậy ạ? Xin cảm ơn?

Người gửi: Trần Trung Kiên Địa chỉ: Phường Minh Xuân, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 25/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 26/07/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Theo quy định của pháp luật thì việc ký hợp đồng mua điện cho mục đích sinh hoạt đối với trường hợp cho thuê nhà để ở thực hiện như sau:

– Bên bán điện chỉ ký một hợp đồng mua bán điện duy nhất tại mỗi địa chỉ nhà cho thuê. Chủ nhà cho thuê có trách nhiệm xuất trình sổ tạm trú hoặc chứng từ xác nhận tạm trú của cơ quan Công an quản lý địa bàn của người thuê nhà;

– Đối với trường hợp cho hộ gia đình thuê thì chủ nhà trực tiếp ký hợp đồng mua bán điện hoặc ủy quyền cho hộ gia đình thuê nhà ký hợp đồng mua bán điện (có cam kết thanh toán tiền điện), mỗi hộ gia đình thuê nhà được tính một định mức;

-Trong trường hợp cho sinh viên và người lao động thuê nhà (bên thuê nhà không phải là một hộ gia đình): trách nhiệm của bên bán điện là thông báo công khai và cấp định mức cho chủ nhà. Cứ 4 người được tính là một hộ sử dụng điện để tính số định mức áp dụng giá bán lẻ điện sinh hoạt, cụ thể: 1 người được tính là 1/4 định mức, 2 người được tính là 1/2 định mức, 3 người được tính là 3/4 định mức, 4 người được tính là 1 định mức;

– Đối với trường hợp cho sinh viên và người lao động thuê nhà đăng ký tạm trú từ 12 tháng trở lên thì chủ nhà trực tiếp ký hợp đồng mua bán điện hoặc đại diện người lao động hoặc sinh viên thuê nhà ký kết hợp đồng mua bán điện (có cam kết thanh toán tiền điện của chủ nhà). Trường hợp thời hạn thuê nhà dưới 12 tháng thì chủ nhà phải trực tiếp ký hợp đồng mua bán điện;

– Trường hợp người thuê nhà không ký hợp đồng trực tiếp với bên bán điện thì chủ nhà cho thuê có trách nhiệm thu tiền điện của người thuê nhà theo đúng giá bán lẻ điện trong hoá đơn tiền điện hàng tháng do đơn vị bán lẻ điện phát hành cộng thêm 10% cho tổn thất điện năng, chi phí chiếu sáng và bơm nước dùng chung;

– Khi có thay đổi về số người thuê nhà, chủ nhà cho thuê có trách nhiệm thông báo cho bên bán điện để điều chỉnh định mức tính toán tiền điện. Bên bán điện có quyền kiểm tra, yêu cầu bên mua điện xuất trình sổ đăng ký tạm trú hàng tháng để xác định số người tính số định mức khi tính toán hóa đơn tiền điện;

– Trường hợp không thể kê khai được số người thì áp dụng giá bán lẻ điện sinh hoạt của bậc 3: từ 101 – 200 kWh cho toàn bộ sản lượng điện đo đếm được tại công tơ.

Như vậy, trong trường hợp này, bạn không ký hợp đồng trực tiếp với bên bán điện thì chủ nhà cho thuê phải có trách nhiệm thu tiền điện theo đúng giá bán lẻ điện trong hóa đơn hàng tháng do đơn vị bán lẻ điện phát hành cộng thêm 10% cho tổn thất, chi phí thiếu sáng và bơm nước dùng chung. Và bạn có nêu là trong hợp đồng thuê nhà thì không ghi giá cả điện nước, nhưng lúc làm hợp đồng bạnc có hỏi chủ nhà là tiền điện, nước vẫn tính theo giá nhà nước( 1 ngàn mấy/ kw) và chủ nhà đồng ý. Tuy nhiên giữa bạn và chủ nhà không có văn bản gì mà chỉ nói miệng nên không có căn cứ gì để áp dụng việc thỏa thuận giữa bạn và chủ nhà. Do đó, khi bạn thực hiện hợp đồng thuê được 3 tháng, việc chủ nhà thông báo cho bạn tiền điện tăng lên 2.500/kw trong khi hợp đồng chưa hết thời hạn 1 năm cũng không có căn cứ nào đề cập trong hợp đồng thuê nhà là không được tăng giá điện và thỏa thuận giữa hai bên đề cấp giá điện tính như giá cũ cũng không rõ ràng.

Câu hỏi: Hỏi về mua điện thoại mà không biết là đồ cướp giật?

Tôi có cửa hàng điện thoại. Có một người thỉnh thoảng đến bán một cái điện thoại Iphone 4s bị khóa mật khẩu với giá 2.500.000 đồng nhưng bị khóa mật khẩu và nói không nhớ mật khẩu. Hôm sau công an đến nói đó là tang vật vụ cướp. Tôi đã giao nộp cho công an chiếc điện thoại và lên viết tường trình. Tôi có viết là lúc mua không biết điện thoại đó là đồ cướp giật. Sau một thời gian công an gọi lên và trả lại tôi 2.500.000. Công an nói tên cướp khai tôi biết đó là đồ trộm cắp. Vậy cho tôi hỏi khi xét xử tên cướp kia tôi có phải ra tòa với vai trò gì không vì công an đã trả lại cho em 2.500.000 đồng rồi. Tôi xin cảm ơn!

Người gửi: Lương Thị Lan Địa chỉ: Phường Tân Quang , TP Tuyên Quang Ngày gửi: 24/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 25/07/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Theo quy định tại Điều 250 Bộ luật Hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có ” Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm” .

Theo quy định tại Điều luật trên thì:

– Mặt khách quan của tội phạm này thể hiện ở hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ các tài sản do người khác phạm tội mà có như trộm cắp, cướp giật…

– Mặt chủ quan của tội phạm này được thực hiện do lỗi cố ý, có nghĩa là người phạm tội phải biết rõ là tài sản do người khác phạm tội mà có nhưng vẫn chứa chấp, tiêu thụ. Nếu người chứa chấp, tiêu thụ không thể biết được đó là tài sản do phạm tội mà có thì hành vi không cấu thành tội phạm.

Như vậy, nếu bạn biết chiếc điện thoại Iphone 4s bạn đã mua là đồ trộm cắp nhưng vẫn cố tình mua thì đã phạm vào tội này. Bạn sẽ bị Cơ quan điều tra khởi tố với tội danh “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Và sẽ có quyết định khởi tố vụ án gửi đến bạn. Tuy nhiên trách nhiệm chứng minh bạn phạm tội thuộc về Cơ quan điều tra.

Nếu bạn không bị khởi tố về tội nêu trên thì bạn sẽ tham gia vào phiên tòa với tư cách người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bạn sẽ đến phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án. Điều 54 Bộ Luật Tố tụng hình sự quy định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người mà “việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ”.

Câu hỏi: Hỏi về tố giác tội phạm và đòi lại tài sản bị trộm cắp.

Em bị móc túi trên xe buýt  vào ngày 3/4. Vậy nếu lần sau em đi mà có gặp lại người đã lấy của em, vì lúc đó em cảm nhận người đó dựa vào em và nhờ bấm chuông xuống trạm mà em không để ý nên không cảnh giác. Đến khi em xuống trạm thì người đó không xuống cùng) thì em nên làm gì vì em không được bắt giữ. Hoặc nếu trường hợp là người đó bán chiếc điện thoại vào tiệm điện thoại cũ mà em tình cờ thấy, em có giữ lại hóa đơn mua hàng ở Vienthonga, có mã số series trùng khớp thì em nên làm thế nào ạ? Em cảm ơn ạ.

Người gửi: Lê Thị Thơm Địa chỉ: Phường Minh Xuân, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 23/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 24/07/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Thứ nhất, nếu không có bằng chứng cụ thể thì rất khó để tố giác một người về hành vi trộm cắp tài sản. Bạn có quyền tố giác tội phạm và phải chịu trách nhiệm về nội dung tố giác của mình theo quy định tại Điều 101Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định tố giác và tin báo về tội phạm như sau:

“Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

 Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản”

Tuy nhiên, trong trường hợp này, bạn chỉ cho rằng người đó đã trộm điện thoại của bạn mà không có bằng chứng hay bất cứ thông tin nào về người đó nên khi gặp lại người đó bạn cũng không có đủ căn cứ để yêu cầu những lực lượng có thẩm quyền như công an, cảnh sát thực hiện việc bắt giữ để điều tra người đó. Trong trường hợp chứng kiến người đó tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp với người khác, bạn có thể ghi lại bằng chứng và bắt giữ người đó để phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền theo Điều 82 Bộ luật tố tụng hình sự 2003:

“Điều 82. Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã

1. Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt, cũng như người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Uỷ ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản và giải ngay người bị bắt đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

2. Khi bắt người phạm tội quả tang hoặc người đang bị truy nã thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.”

Sau đó, bạn có thể làm bản tường trình về sự việc của bạn xảy ra trước đó để được điều tra và giải quyết. 

Thứ hai, trong trường hợp bạn có căn cứ chắc chắn về chiếc điện thoại bị trộm của mình. Bạn cần trình báo sự việc với cơ quan công an để được can thiệp giải quyết. Trong trường hợp chiếc điện thoại đó được xác định đúng là chiếc điện thoại bạn mua (căn cứ theo hóa đơn mua hàng) và người đang chiếm hữu chiếc điện thoại không đưa ra được các căn cứ chứng minh quyền sở hữu hợp pháp với chiếc điện thoại thì bạn có thể được nhận lại tài sản của mình theo quy định tại Điều 166 Bộ luật dân sự 2015:

“ Điều 166. Quyền đòi lại tài sản

1. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.

2. Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền khác đối với tài sản đó.”

 

Câu hỏi: Hỏi về khi nào nhặt được tiền rơi sẽ thuộc về người nhặt được.

Cho tôi hỏi ! Tôi có được số tiền lớn, tôi được có được sử dụng không và nếu được sử dụng có phải bị đánh thuế hay bất cứ chế tài quy định nào khác? Xin cảm ơn!

Người gửi: Trần Thị Liên Địa chỉ: Phường Phan Thiết, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 22/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 23/07/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Theo quy định tại điều 241 Bộ luật dân sự 2005 quy định về việc Xác lập quyền sở hữu đối với vật do người khác đánh rơi, bỏ quên, thì:

Người nhặt được vật do người khác đánh rơi hoặc bỏ quên mà biết được địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc trả lại vật cho người đó; nếu không biết địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc công an cơ sở gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại.

Uỷ ban nhân dân hoặc công an cơ sở đã nhận vật phải thông báo cho người đã giao nộp về kết quả xác định chủ sở hữu.

Sau một năm, kể từ ngày thông báo công khai về vật nhặt được mà không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận, nếu vật có giá trị đến mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định thì vật đó thuộc sở hữu của người nhặt được; nếu vật có giá trị lớn hơn mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định thì sau khi trừ chi phí bảo quản người nhặt được được hưởng giá trị bằng mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc Nhà nước.

Vật bị đánh rơi, bị bỏ quên là di tích lịch sử, văn hoá mà sau một năm, kể từ ngày thông báo công khai, không xác định được chủ sở hữu hoặc không có người đến nhận thì vật đó thuộc Nhà nước; người nhặt được vật đó được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật.

Câu hỏi: Hỏi về tội trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự?

Cho tôi hỏi:

1. Quy trình để truy tố nam công dân trong tuổi sẵn sàng nhập ngũ mà không thực hiện nghĩa vụ quân sự và trốn tránh nhiều năm?

2. Nếu công dân không nhận giấy triệu tập sơ tuyển sức khỏe tại trạm y tế xã thì sẽ bị xử lý như thế nào? Nếu công dân nhận giấy triệu tập nhưng không đến khám sơ tuyển tại trạm y tế xã thì xử lý như thế nào? Liệu có cho công dân đó tiếp tục khám tuyến huyện được không? Nếu Ban chỉ huy quân sự xã lập biên bản xử lý công dân vắng mặt không đến khám sơ tuyển mà công dân vi phạm không ký vào biên bản thì xử lý như thế nào?

Trân trọng cảm ơn!

Người gửi: Nguyễn Tuấn Anh Địa chỉ: Phường Minh Xuân, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 21/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 22/07/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Việc phạm tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự theo khoản 1 Điều 259 Bộ luật hình sự 1999 là tội phạm ít nghiêm trọng:

“Điều 259. Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự

1. Người nào không chấp hành đúng quy định của pháp luật  về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.”

Quy trình truy tố bị can được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự 2003. Cụ thể, một số Điều trong Bộ luật quy định về truy tố như:

“Điều 163. Đề nghị truy tố

1. Khi có đầy đủ chứng cứ để xác định có tội phạm và bị can thì Cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố. Bản kết luận điều tra trình bày diễn biến hành vi phạm tội, nêu rõ các chứng cứ chứng minh tội phạm, những ý kiến đề xuất giải quyết vụ án, có nêu rõ lý do và căn cứ đề nghị truy tố.

2. Kèm theo bản kết luận điều tra có bản kê về thời hạn điều tra, biện pháp ngăn chặn đã được áp dụng có ghi rõ thời gian tạm giữ, tạm giam, vật chứng, việc kiện dân sự, biện pháp để bảo đảm việc phạt tiền, bồi thường và tịch thu tài sản, nếu có.”

“Điều 166. Thời hạn quyết định truy tố

1. Trong thời hạn hai mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, ba mươi ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra một trong những quyết định sau đây:

a) Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng;

b) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;

c) Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.

Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn, nhưng không quá mười ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; không quá mười lăm ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng; không quá ba mươi ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra một trong những quyết định nêu trên, Viện kiểm sát phải thông báo cho bị can, người bào chữa biết; giao bản cáo trạng, quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án cho bị can. Người bào chữa được đọc bản cáo trạng, ghi chép, sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa theo quy định của pháp luật và đề xuất yêu cầu.

2. Sau khi nhận hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát có quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can. Thời hạn tạm giam không được quá thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Trong trường hợp truy tố thì trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra quyết định truy tố bằng bản cáo trạng, Viện kiểm sát phải gửi hồ sơ và bản cáo trạng đến Tòa án.

4. Trong trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền truy tố của mình, Viện kiểm sát ra ngay quyết định chuyển vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.”

Hành vi không nhận lệnh khám sức khỏe hoặc nhận nhưng không đến khám mà không có lý do chính đáng đều là hành vi trốn tránh nghĩa vụ quân sự. Cụ thể, mức xử phạt với hành vi này quy định tại Khoản 1 Điều 6 Nghị định 120/2013/NĐ-CP:

“Điều 6. Vi phạm quy định về kiểm tra, khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự

1. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với hành vi không có mặt đúng thời gian hoặc địa điểm kiểm tra, khám sức khỏe ghi trong giấy gọi kiểm tra, khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự mà không có lý do chính đáng.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

a) Người khám sức khỏe gian dối làm sai lệch kết quả phân loại sức khỏe của mình nhằm trốn tránh nghĩa vụ quân sự;

b) Đưa tiền hoặc các lợi ích vật chất khác cho cán bộ, nhân viên y tế để làm sai lệch kết quả phân loại sức khỏe của người khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự;

c) Cán bộ, nhân viên y tế cố ý làm sai lệch các yếu tố về sức khỏe của người khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc thực hiện kiểm tra hoặc khám sức khỏe theo kế hoạch của Hội đồng nghĩa vụ quân sự đối với hành vi quy định tại Khoản 1 Điều này;

(…)”

Theo đó, việc khám sức khỏe theo tuyến nào phụ thuộc vào kế hoạch của Hội đồng nghĩa vụ quân sự. Việc không ký vào biên bản xử lý vi phạm của công dân không làm mất tính hợp pháp của biên bản đó nếu có chữ ký của đại diện chính quyền cơ sở hoặc của hai người chứng kiến, căn cứ khoản 2 Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012:

“Điều 58. Lập biên bản vi phạm hành chính

(…)

2. (…)

Trường hợp người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm không có mặt tại nơi vi phạm hoặc cố tình trốn tránh hoặc vì lý do khách quan mà không ký vào biên bản thì biên bản phải có chữ ký của đại diện chính quyền cơ sở nơi xảy ra vi phạm hoặc của hai người chứng kiến.

3. Biên bản vi phạm hành chính phải được lập thành ít nhất 02 bản, phải được người lập biên bản và người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm ký; trường hợp người vi phạm không ký được thì điểm chỉ; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại thì họ cùng phải ký vào biên bản; trường hợp biên bản gồm nhiều tờ, thì những người được quy định tại khoản này phải ký vào từng tờ biên bản. Nếu người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm, người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại từ chối ký thì người lập biên bản phải ghi rõ lý do vào biên bản.

Biên bản vi phạm hành chính lập xong phải giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính 01 bản; trường hợp vi phạm hành chính không thuộc thẩm quyền hoặc vượt quá thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì biên bản phải được chuyển ngay đến người có thẩm quyền xử phạt để tiến hành xử phạt.

Trường hợp người chưa thành niên vi phạm hành chính thì biên bản còn được gửi cho cha mẹ hoặc người giám hộ của người đó.”

Ngoài ra, nếu công dân bị xử phạt không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt thì sẽ bị cưỡng chế thi hành, căn cứ Điều 86 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012:

“Điều 86. Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

1. Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt được áp dụng trong trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt theo quy định tại Điều 73 của Luật này.

2. Các biện pháp cưỡng chế bao gồm:

a) Khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản của cá nhân, tổ chức vi phạm;

b) Kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá;

c) Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính do cá nhân, tổ chức khác đang giữ trong trường hợp cá nhân, tổ chức sau khi vi phạm cố tình tẩu tán tài sản.

d) Buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật này.

3. Chính phủ quy định cụ thể về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.”

 

Câu hỏi: Hỏi về tố cáo hành vi hành hung người khác?

Vợ tôi đang buôn bán thì bị Chị bán gần đó đánh, không biết lý do vì sao. Không bị thương tật nhiều, nay tôi muốn kiện Chị vì tội hành hung người khác có được hay không? Và cách xử phạt là thế nào? Xin chân thành cảm ơn !

Người gửi: Lê Thị Thoa Địa chỉ: Phường Minh Xuân, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 20/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 21/07/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Căn cứ quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự 1999 quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì  lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật  từ  61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

 4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.”

 

Như vậy, vợ bạn bị một người đanh và gây thương tật nhẹ nên trong trường hợp này vợ bạn hoàn toàn có quyền làm đơn khởi kiện người kia có những hành vi vi phạm về tội cố ý gây thương tích cho người khác. Căn cứ vào tỷ lệ thương tật và nguyên nhân dẫn đến hành vi của người kia để xác định trách nhiệm hình sự đối vợi họ.

Trong trường hợp chưa đủ điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự thì người kia có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP:

“2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau;”

Bên cạnh đó, nếu vợ bạn bị thiệt hại thì vợ bạn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Điều 604 Bộ luật dân sự 2005 quy định như sau:

“1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.”

Điều 609 Bộ luật dân sự 2005 quy định thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm:

“1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.”

 

Câu hỏi: Hỏi về tham gia đánh nhau bị phạt như thế nào?

Vừa rồi em có xích mích với một người bạn cùng làng. Hai đứa đã xô xát đánh nhau và bị lập biên bản xử lý vi phạm. Thương tích của hai bên không nặng mà chỉ là thương nhẹ. Công an địa phương nói hai đứa sẽ phải nộp tiền phạt. Vậy em sẽ phải nộp số tiền là bao nhiêu?

Người gửi: Trần Văn Hiệp Địa chỉ: Phường Ỷ La, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 19/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 20/07/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Theo quy định tại Điều 5, Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình thì mức xử phạt được quy định như sau: Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng.

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;

b) Gây mất trật tự ở rạp hát, rạp chiếu phim, nhà văn hóa, câu lạc bộ, nơi biểu diễn nghệ thuật, nơi tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao, lễ hội, triển lãm, hội chợ, trụ sở cơ quan, tổ chức, khu dân cư, trường học, bệnh viện, nhà ga, bến tàu, bến xe, trên đường phố, ở khu vực cửa khẩu, cảng hoặc ở nơi công cộng khác;

c) Thả rông động vật nuôi trong thành phố, thị xã hoặc nơi công cộng.

2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau;

b) Báo thông tin giả đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

c) Say rượu, bia gây mất trật tự công cộng;

d) Ném gạch, đất, đá, cát hoặc bất cứ vật gì khác vào nhà, vào phương tiện giao thông, vào người, đồ vật, tài sản của người khác;

đ) Tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng;e) Để động vật nuôi gây thiệt hại tài sản cho người khác;

g) Thả diều, bóng bay, chơi máy bay, đĩa bay có điều khiển từ xa hoặc các vật bay khác ở khu vực sân bay, khu vực cấm; đốt và thả “đèn trời”;

h) Sách nhiễu, gây phiền hà cho người khác khi bốc vác, chuyên chở, giữ hành lý ở các bến tàu, bến xe, sân bay, bến cảng, ga đường sắt và nơi công cộng khác.

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Tàng trữ, cất giấu trong người, đồ vật, phương tiện giao thông các loại dao, búa, các loại công cụ, phương tiện khác thường dùng trong lao động, sinh hoạt hàng ngày nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác.

b) Lôi kéo hoặc kích động người khác gây rối, làm mất trật tự công cộng;

c) Thuê hoặc lôi kéo người khác đánh nhau;

d) Gây rối trật tự tại phiên tòa, nơi thi hành án hoặc có hành vi khác gây trở ngại cho hoạt động xét xử, thi hành án;

đ) Gây rối trật tự tại nơi tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế;

e) Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác;

g) Lợi dụng quyền tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng để lôi kéo, kích động người khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;

h) Gây rối hoặc cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức;

i) Tập trung đông người trái pháp luật tại nơi công cộng hoặc các địa điểm, khu vực cấm;

k) Tổ chức, tạo điều kiện cho người khác kết hôn với người nước ngoài trái với thuần phong mỹ tục hoặc trái với quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng tới an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

l) Viết, phát tán, lưu hành tài liệu có nội dung xuyên tạc bịa đặt, vu cáo làm ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức, cá nhân;

m) Tàng trữ, vận chuyển “đèn trời”.

4. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ;

b) Sản xuất, nhập khẩu, buôn bán “đèn trời”.

5. Hình thức xử phạt bổ sung:

Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại Điểm g Khoản 2; Điểm a, l, m Khoản 3 và Khoản 4 Điều này.

6. Người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính quy định tại Điểm k Khoản 3 Điều này, thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất khỏi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Như vậy, công an xã sẽ đưa ra mức phạt phù hợp với quy định của pháp luật để xử phạt bạn và người đánh nhau với bạn.

Câu hỏi: Hỏi về phạm tội cố ý gây thương tích cho người khác bị truy cứu như thế nào?

Cho em hỏi. Em có người thân trong lúc say rượu có cãi cọ và xích mích với hàng xóm sảy ra xô sát với 3 cha con người hàng xóm đều trên tuổi vị thành niên. Bên hàng xóm có 1 người bị thương trên mặt là 15% còn người thân của em bị nát xương chân thương tật là 17%. Giờ bên kia họ kiện vậy cho em hỏi có đi tù không và mức án như thế nào. Xin cám ơn ạ?

Người gửi: Phạm Thu Trang Địa chỉ: Phường Minh Xuân, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 18/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 19/07/2019

Hành vi cố ý gây thương tích cho người khác dù trong tình huống người gây thương tích say rượu vẫn được coi là hành vi vi phạm pháp luật theo quy định tại Điều 13 Bộ luật Hình sự 2015 về phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác.

Điều 134 Luật sửa đổi bộ luật hình sự 2017 quy định:

“Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này. ”

 

Theo như bạn trình bày, người thân của chị và người hàng xóm đều thực hiện hành vi có đầy đủ dấu hiệu cấu thành Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác.

Người thân của bạn được xác định thương tích 17% và người hàng xóm được xác định thương tích là 15%, áp dụng khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 thì người thân của bạn và hàng xóm có thể phải nhận mức án phạt là cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Ngoài ra, nếu một trong hai người hoặc cả hai người  thuộc đối tượng của tội phạm quy định tại Khoản 2 điểm c, d, đ Điều này thì một trong hai người hoặc cả hai người có thể nhận mức án là phạt tù từ 02 đến 06 năm.

Câu hỏi: Hỏi về quyền sở hữu đối với gia súc đi lạc?

01 con trâu nhà tôi đi lạc vào bầy trâu nhà người khác, tôi không thông báo cho công an và chính quyền địa phương mà tự ý đi tìm, thì phát hiện con trâu nhà tôi đã bị bán cho một cơ sở giết mổ (hiện con trâu vẫn còn sống). Hiện nay tôi đã biết người bán trâu của gia đình tôi. Vậy cho tôi hỏi người bán trâu của tôi có phạm vào tội gì hay không?

Người gửi: Trần Thanh Nhàn Địa chỉ: Xã Trung Môn, Huyện Yên Sơn, Tỉnh Tuyên Quang Ngày gửi: 17/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 18/07/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Khoản 1 Điều 231 Bộ luật dân sự 2015 quy định về xác lập quyền sở hữu đối với gia súc bị thất lạc như sau:

"Điều 231. Xác lập quyền sở hữu đối với gia súc bị thất lạc

1. Người bắt được gia súc bị thất lạc phải nuôi giữ và báo ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại. Sau 06 tháng, kể từ ngày thông báo công khai hoặc sau 01 năm đối với gia súc thả rông theo tập quán thì quyền sở hữu đối với gia súc và số gia súc được sinh ra trong thời gian nuôi giữ thuộc về người bắt được gia súc.

…"

Theo quy định trên, khi phát hiện ra trâu nhà bạn lạc sang đàn nhà họ, họ phải có nghĩa vụ báo ngay cho Uỷ ban nhân dân cấp xã để thông báo công khai cho bạn. Nếu sau 06 tháng kể từ thời điểm họ thông báo mà bạn không đến nhận gia súc thì họ có quyền sở hữu đối với con trâu đó.

Tuy nhiên, trong trường hợp này, theo như thông tin bạn cung cấp thì người đó không thông báo đến Uỷ ban nhân dân xã mà tự ý mang con trâu đi bán thì đây là hành vi vi phạm pháp luật. Người đó có thể bị xử phạt vi phạm hành chính từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng với hành vi Chiếm giữ trái phép tài sản của người khác theo quy định tại Điểm e) Khoản 2 Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP.

Nếu con trâu đó có giá trị từ mười triệu đồng trở lên thì người bán trâu cho bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội chiếm giữ trái phép tài sản theo quy định tại Điều 141 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009.

Câu hỏi: Hỏi về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

'' Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa đất số 69, diện tích 353m2 tại tổ 11, phường Nông Tiến, Thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. ''

Người gửi: Nguyễn Sỹ Kim Địa chỉ: Tổ 11, Phường Nông Tiến, Thành phố Tuyên Quang, Tỉnh Tuyên Quang Ngày gửi: 17/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Tài nguyên và Môi trường
Ngày trả lời: 24/07/2019

Sở Tài nguyên và Môi trường trả lời ông Nguyễn Sỹ Kim như sau:

Việc khởi kiện của ông đối với Quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND thành phố Tuyên Quang tại thửa đất số 69, tờ bản đồ 28 mang tên bà Tạ Thị Bảy đã được Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang thụ lý, giải quyết tại Bản án số 02/2018/HC-ST ngày 06/02/2018.

Hiện nay Ông Nguyễn Sỹ Kim và bà Đào Thị Duẩn đang kháng cáo bản án nêu trên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội. Vì vậy nội dung đề nghị của ông sẽ được cơ quan tòa án giải quyết theo luật định.

Sở Tài nguyên và Môi trường trân trọng có ý kiến ./.  

Câu hỏi: Hỏi về trẻ bị câm điếc bẩm sinh thì được hưởng những chế độ gì?

Con gái tôi bị câm điếc bẩm sinh mức độ nặng hiện nay cháu được hưởng 500.000đ/tháng. Năm nay cháu 6 tuổi bắt đầu vào lớp 1, vậy xin hỏi quý cơ quan cho biết cháu có được miễn giảm học phí không? ngoài ra cháu còn được hưởng những khoản gì nữa không?

Người gửi: Nguyễn Tuấn An Địa chỉ: Phường Minh Xuân, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 16/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 17/07/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

– Căn cứ Điều 6 Nghị định 86/2015/NĐ-CP quy định về đối tượng không phải đóng học phí như sau:

“Điều 6. Đối tượng không phải đóng học phí

Đối tượng không phải đóng học phí tại các cơ sở giáo dục công lập bao gồm: Học sinh tiểu học; Học sinh, sinh viên sư phạm; Người học các ngành chuyên môn đặc thù đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh theo quy định của Luật Giáo dục đại học.”

– Căn cứ Điều 7 Nghị định 86/2015/NĐ-CP quy định về đối tượng được miễn học phí như sau:

“Điều 7. Đối tượng được miễn học phí

1. Người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng theo Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29 tháng 6 năm 2005, Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 ngày 16 tháng 7 năm 2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng.

2. Trẻ em học mẫu giáo và học sinh, sinh viên bị tàn tật, khuyết tật có khó khăn về kinh tế.

3. Trẻ em học mẫu giáo và học sinh dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng quy định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.

Người từ 16 tuổi đến 22 tuổi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội mà đang học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất.

4. Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.

5. Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông là con của hạ sĩ quan và binh sĩ, chiến sĩ đang phục vụ có thời hạn trong lực lượng vũ trang nhân dân.

6. Học sinh, sinh viên hệ cử tuyển (kể cả học sinh cử tuyển học nghề nội trú với thời gian đào tạo từ 3 tháng trở lên).

7. Học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú, trường dự bị đại học, khoa dự bị đại học.

8. Học sinh, sinh viên học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.

9. Sinh viên học chuyên ngành Mác – Lê nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh.

10. Học sinh, sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh các chuyên ngành: Lao, Phong, Tâm thần, Giám định pháp y, Pháp y tâm thần và Giải phẫu bệnh.

11. Học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số rất ít người ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.

12. Sinh viên cao đẳng, đại học, học viên cao học, nghiên cứu sinh học các chuyên ngành trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.

13. Người tốt nghiệp trung học cơ sở học tiếp lên trình độ trung cấp.

14. Người học các trình độ trung cấp, cao đẳng, đối với các ngành, nghề khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu theo danh mục do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp ở Trung ương quy định.

15. Người học các ngành chuyên môn đặc thù đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp.”

Như vậy, học sinh tiểu học là đối tượng không phải đóng học phí nên con bạn sẽ đương nhiên không phải đóng học phí; ngoài ra trường hợp con bạn là học sinh bị khuyết tật, có khó khăn về kinh tế thì thuộc đối tượng được miễn học phí theo quy định tại Điều 7 Nghị định 86/2015/NĐ-CP quy định về đối tượng được miễn học phí nêu trên. Ngoài ra sẽ được hưởng các chính sách hỗ trợ tại trường mà bé theo học.

– Căn cứ Điều 3  Luật người khuyết tật năm 2010 quy định về dạng tật và mức độ khuyết tật như sau:

“Điều 3. Dạng tật và mức độ khuyết tật

1. Dạng tật bao gồm:

a) Khuyết tật vận động;

b) Khuyết tật nghe, nói;

c) Khuyết tật nhìn;

d) Khuyết tật thần kinh, tâm thần;

đ) Khuyết tật trí tuệ;

e) Khuyết tật khác.

2. Người khuyết tật được chia theo mức độ khuyết tật sau đây:

a) Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;

b) Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;

c) Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này.”

– Căn cứ Điều 44 Luật người khuyết tật năm 2010 quy định về trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc khách hàng như sau:

“Điều 44. Trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng

1. Đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng bao gồm:

a) Người khuyết tật đặc biệt nặng, trừ trường hợp quy định tại Điều 45 của Luật này;

b) Người khuyết tật nặng.

2. Đối tượng được hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng bao gồm:

a) Gia đình có người khuyết tật đặc biệt nặng đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc người đó;

b) Người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng;

c) Người khuyết tật quy định tại khoản 1 Điều này đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

3. Người khuyết tật quy định tại khoản 1 Điều này là trẻ em, người cao tuổi được hưởng mức trợ cấp cao hơn đối tượng khác cùng mức độ khuyết tật.

4. Mức trợ cấp xã hội hàng tháng, mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng đối với từng loại đối tượng theo quy định tại Điều này do Chính phủ quy định.”

Như vậy, tuỳ thuộc vào mức độ khuyết tật của con bạn mà có mức hưởng trợ cấp xã hội tương đương. Ngoài mức hưởng trợ cấp xã hội mà con bạn đang được hưởng thì các khoản trợ cấp khác phải tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể.

Câu hỏi: Hỏi về nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da cam thì được hưởng chế độ ưu đãi như thế nào?

Cho tôi hỏi: Tôi và vợ là nạn nhân chất độc da cam, di chứng từ mẹ và bố vợ tôi quê ở Thanh Hóa. Hiện nay, tôi đang cư trú trên địa bàn Tỉnh Tuyên Quang đã có sổ KT3 hơn 5 năm. Con tôi đi học ở trường tiểu học trên địa bàn. Tôi làm đơn xin phường xác nhận vợ chồng tôi là con em nạn nhân chất độc da cam và có giấy chứng nhận con em nạn nhân chất độc da cam từ địa phương kèm theo nhưng cán bộ phường bảo trường hợp của tôi phường không xác nhận vì không đúng quy định như vậy có đúng không?Vậy vợ chồng tôi là nạn nhân chất độc da cam sống trên địa bàn đã có sổ KT3 có được quyền lợi gì ở không?

Người gửi: Phan Thanh Bình Địa chỉ: Phường Ỷ La, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 15/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 16/07/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Trường hợp mẹ bạn và cha vợ bạn là người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học thì UBND phường nơi bạn cư trú không phải là nơi có thẩm quyền xác định công nhận nhân thân mà phải là những cơ quan quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 7 Nghị định 31/2013/NĐ-CP:

Điều 7. Thủ tục hồ sơ

1. Cá nhân có trách nhiệm:

a) Viết bản khai về quá trình hoạt động cách mạng có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú; trường hợp người hoạt động cách mạng đã hy sinh, từ trần thì đại diện thân nhân hoặc người thờ cúng lập bản khai kèm biên bản ủy quyền;

b) Gửi bản khai kèm theo một trong các giấy tờ, tài liệu quy định tại Điều 6 của Nghị định này đến các cơ quan sau để công nhận:

Ban thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy trực thuộc trung ương xem xét, quyết định đối với người hoạt động cách mạng thuộc cấp ủy địa phương quản lý;

Ban đảng, Ban Cán sự đảng, Đảng đoàn, Đảng ủy trực thuộc trung ương xem xét, quyết định đối với người hoạt động cách mạng thuộc bộ, ban, ngành, đoàn thể trung ương quản lý;

Tổng cục Chính trị xem xét, quyết định đối với người hoạt động cách mạng thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam;

Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân xem xét, quyết định đối với người hoạt động cách mạng thuộc Công an nhân dân.”

Vợ chồng bạn có thể được hưởng trợ cấp căn cứ Điều 45 Nghị định 31/2013/NĐ-CP nếu vợ chồng bạn có dị dạng, dị tật cần phương tiện trợ giúp và dụng cụ chỉnh hình hoặc suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, việc có sổ KT3 không làm phát sinh thêm chế độ ưu đãi hay quyền lợi gì đối với vợ chồng bạn:

“Điều 45. Chế độ ưu đãi đối với con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học

1. Trợ cấp hàng tháng

Mức 1: Suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên, mức trợ cấp bằng một lần mức chuẩn.

Mức 2: Suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%, mức trợ cấp bằng 0,6 lần mức chuẩn.

Thời điểm hưởng trợ cấp từ ngày Hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền kết luận.

2. Cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình cần thiết căn cứ vào tình trạng dị dạng, dị tật.

3. Khi con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo quy định tại Khoản 1 Điều này chết thì người tổ chức mai táng được hưởng mai táng phí; đại diện thân nhân được hưởng trợ cấp một lần bằng ba tháng trợ cấp ưu đãi.”

Trường hợp mẹ bạn và cha vợ bạn không phải là người hoạt động kháng chiến thì vợ chồng bạn nếu bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn thì phải căn cứ Luật người khuyết tật 2010 để xem xét chế độ ưu đãi.

Câu hỏi: Hỏi về như thế nào được gọi là người khuyết tật?

Cho em hỏi pháp luật quy định người như thế nào được gọi là người khuyết tật? Em cảm ơn!

Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn Địa chỉ: Trung Môn, Yên Sơn, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 14/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời: 15/07/2019

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Người khuyết tật 2010 quy định:

“1. Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”

Như vây, người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn. Người khuyết tật bao gồm cả những người. Tại Điều 3 Luật Người khuyết tật 2010 quy định về Dạng tật và mức độ khuyết tật

“1. Dạng tật bao gồm:

a) Khuyết tật vận động;

b) Khuyết tật nghe, nói;

c) Khuyết tật nhìn;

d) Khuyết tật thần kinh, tâm thần;

đ) Khuyết tật trí tuệ;

e) Khuyết tật khác.

2. Người khuyết tật được chia theo mức độ khuyết tật sau đây:

a) Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;

b) Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;

c) Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này”

Như vậy, Pháp luật đã có quy định rõ ràng về người như thế nào thì được coi là người khuyết tật

Câu hỏi: Hỏi về hành vi sử dụng chứng minh thư nhân dân cũ để lừa đảo

Tôi có một cửa hàng cho thuê áo dài và thường xuyên phải yêu cầu khách hàng để lại chứng minh thư nhân dân. Nhưng dạo gần đây, một vài người đến thuê áo dài đã sử dụng chứng minh thư cũ, được cấp từ năm 1990 hay 1995 vả rồi không quay trở lại trả áo. Mong quý cơ quan có thể tư vấn giúp tôi xem, hành vi này của họ sẽ bị xử lý như thế nào? Và tôi có được bồi thường những chiếc áo dài bị mất hay không?  Xin cảm ơn!

Người gửi: Phạm Quỳnh Anh Địa chỉ: Phường Tân Quang, TP Tuyên Quang Ngày gửi: 13/07/2019
Cơ quan trả lời: Sở Thông tin và Truyền thông
Ngày trả lời:

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập Cổng Thông tin điện tử. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Theo quy định tại Điều 2, Nghị định 05/1999/NĐ-CP ngày 3 tháng 2 năm 1999 của Chính phủ được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định 170/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2007 của Chính phủ thì giá trị sử dụng của chứng minh thư nhân dân chỉ dừng lại trong khoảng thời gian 15 năm kể từ ngày cấp. Vì vậy, trong trường hợp những chứng minh thư nhân dân được cấp từ những năm 1990 hay 1995 thì cho đến thời điểm hiện tại là năm 2015 đều hết giá trị sử dụng. Vì vậy, những người đứng tên trên chứng minh thư nhân dân đó không được xuất trình khi tham gia vào bất cứ các quan hệ dân sự hay kinh tế nào khác.

Theo đó, theo quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 9, Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 thì họ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với mức phạt từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng do đã có hành vi sử dụng chứng minh thư nhân dân của người khác để thực hiện vi phạm pháp luật, cụ thể ở đây là việc lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của bạn. Trong trường hợp số áo dài của bạn cho thuê có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên thì họ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 139, Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung 2009.

Nếu như trong trường hợp họ sử dụng trực tiếp chứng minh thư nhân dân đã hết giá trị sử dụng của mình để thực hiện việc thuê áo dài của bạn thì bạn có thể căn cứ vào những thông tin nhân thân của người đó để có thể đòi lại tài sản cho mình, còn trong trường hợp họ sử dụng chứng minh thư nhân dân của người khác thì rất khó để xác định được chủ thể đã thực hiện hành vi nói trên.

Trang trước Trang sau